Tóm tắt Luận văn Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến bệnh do Vi Rút Zika tại Việt Nam giai đoạn 2016-2017

pdf 20 trang Quỳnh Hoa 13/12/2025 210
Bạn đang xem tài liệu "Tóm tắt Luận văn Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến bệnh do Vi Rút Zika tại Việt Nam giai đoạn 2016-2017", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_van_thuc_trang_va_mot_so_yeu_to_lien_quan_den_b.pdf

Nội dung tài liệu: Tóm tắt Luận văn Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến bệnh do Vi Rút Zika tại Việt Nam giai đoạn 2016-2017

  1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG VŨ THANH TÚ THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN BỆNH DO VI RÚT ZIKA TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2016 - 2017 Chuyên nghành : Y tế công cộng Mã số : 60 72 03 01 TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG Hà Nội – Năm 2018
  2. 1 ĐẶT VẤN ĐỀ Nhiễm vi rút Zika là bệnh truyền nhiễm cấp tính do muỗi Aedes truyền và có thể gây dịch. Bệnh được phát hiện lần đầu tiên trên khỉ Rhesus tại Uganda vào năm 1947 và phát hiện trên người vào năm 1952 tại Uganda và Tanzania. Theo thông báo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), bệnh do vi rút Zika hiện đang diễn biến phức tạp và lây lan nhanh trên phạm vi toàn cầu. Đến ngày 29/12/2016 đã có 82 quốc gia và vùng lãnh thổ ghi nhận có sự lưu hành hoặc lây truyền vi rút Zika, trong đó châu Mỹ 49, châu Á 23, châu Âu 7, châu Phi 3. Tại khu vực Đông Nam Á, đã có 9/11 quốc gia ghi nhận sự lưu hành vi rút Zika (trừ Brunei và Đông Timor). Có 13 quốc gia báo cáo bằng chứng lây truyền từ người sang người, 29 quốc gia và vùng lãnh thổ báo cáo ghi nhận trẻ mắc chứng đầu nhỏ có liên quan đến vi rút Zika, 20 quốc gia báo cáo gia tăng hội chứng viêm đa rễ thần kinh. Ngày 01/2/2016, WHO tuyên bố sự gia tăng các trường hợp dị tật bẩm sinh nghiêm trọng tại Nam Mỹ có khả năng do vi rút Zika gây ra và coi đây là yếu tố đủ để cấu thành tình trạng khẩn cấp toàn cầu về y tế. Ngày 08/3/2016, WHO khẳng định tình trạng dịch bệnh do vi rút Zika là sự kiện y tế công cộng khẩn cấp gây quan ngại quốc tế và cho rằng sự lan truyền của vi rút Zika sẽ tiếp tục mở rộng trong thời gian tới. Ngày 18/11/2016, WHO đã tuyên bố nhiễm vi rút Zika không còn là sự kiện y tế công cộng khẩn cấp gây quan ngại quốc tế nhưng những hậu quả do nhiễm vi rút này vẫn là một thách thức y tế công cộng đòi hỏi phải hành động mạnh mẽ. Tại Việt Nam cũng đã lưu hành vi rút Zika trong cộng đồng. Theo báo cáo tổng kết năm 2016 cả nước ghi nhận 212 mẫu dương
  3. 2 tính với vi rút Zika tại 11 tỉnh, thành phố: TP. Hồ Chí Minh (186), Bình Dương (07), Khánh Hòa (06), Đồng Nai (04), Đắk Lắk (02), Bà Rịa - Vũng Tàu (02), Phú Yên (01), Long An (01), Tây Ninh (01), Cần Thơ (01) và Bình Phước (01). Trong đó ghi nhận 01 trường hợp trẻ đầu nhỏ nghi có liên quan đến lây nhiễm vi rút Zika. Nhiều trường hợp bệnh không có biểu hiện triệu chứng (khoảng 80%) và triệu chứng nhẹ do vậy rất khó phát hiện, chẩn đoán để can thiệp khống chế dịch. Bệnh do vi rút Zika có thể gây chứng đầu nhỏ ở 1- 10% số trẻ được sinh ra từ bà mẹ bị nhiễm vi rút Zika trong 3 tháng đầu thời kỳ thai nghén. Hiện chưa có vắc xin phòng bệnh và thuốc điều trị đặc hiệu. Hơn nữa, ý thức cộng đồng chưa cao, nhiều địa phương còn chủ quan, lơ là trong công tác phòng chống dịch. Trên thế giới hiện đã có nhiều nghiên cứu được tiến hành nhằm mô tả đặc điểm dịch tễ của bệnh do nhiễm vi rút Zika. Báo cáo của Dick về lần đầu tiên phát hiện vi rút Zika ở người tại Uganda và Tanzania (1952). Báo cáo của Duffy và cộng sự về vụ dịch và triệu chứng lâm sàng của các bệnh nhân nhiễm vi rút Zika đầu tiên xảy ra ngoài Châu Phi trên đảo Yab (2009). Tại Châu Á có báo cáo dịch tễ của Olson và cộng sự tại Indonesia (2016) báo cáo về 2 trường hợp nhiễm vi rút đầu tiên. Báo cáo của Tappe và cộng sự (2014) về trường hợp nhiễm vi rút Zika đầu tiên du nhập vào Châu Âu. Tại Châu Mĩ có báo cáo của Marcondes và Ximenes (2016), báo cáo của Stamm (2016). Các báo cáo khác về đặc điểm lâm sàng của bệnh do vi rút Zika như báo cáo của Grard và cộng sự (2014), Brasil và cộng sự tại Brazil (2016), Cerbino-Neto và cộng sự cũng tại Brazil (2016), Jimenez Corona và cộng sự tại Mexico (2016). Ở Việt Nam còn rất ít các báo cáo về đặc điểm dịch tễ và lâm sàng về bệnh do nhiễm vi rút Zika. Câu hỏi đặt ra là tình hình dịch
  4. 3 bệnh do nhiễm vi rút Zika giai đoạn 2016-2017 tại Việt Nam đã diễn ra như thế nào? Những yếu tố nào có liên quan đến tỷ lệ mắc và tử vong do vi rút Zika ở Việt Nam? Để trả lời cho các câu hỏi trên góp phần cung cấp bằng chứng cho công tác phòng ngừa và kiểm soát sự lan truyền của dịch bệnh, chúng tôi đã tiến hành đề tài: "Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến bệnh do vi rút Zika tại Việt Nam giai đoạn 2016-2017" với hai mục tiêu: 1. Mô tả một số đặc điểm dịch tễ, lâm sàng bệnh do vi rút Zika tại Việt Nam trong giai đoạn 2016- 2017. 2. Phân tích một số yếu tố liên quan đến bệnh do vi rút Zika của đối tượng nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu Hồ sơ bệnh án những bệnh nhân được chẩn đoán xác định nhiễm vi rút Zika tại các cơ sở Y tế ở Việt Nam. Tiêu chuẩn lựa chọn: Hồ sơ của đối tượng là công dân Việt Nam hoặc nước ngoài đang sống và làm việc tại Việt Nam. Đã được chẩn đoán xác định nhiễm vi rút Zika từ ngày 01/01/2016 đến ngày 30/06/2017. Hồ sơ bệnh án có đầy đủ thông tin về lâm sàng, dịch tễ học về vi rút Zika của đối tượng. Tiêu chuẩn loại trừ: Hồ sơ bệnh án không đầy đủ thông tin về lâm sàng, dịch tễ học bệnh vi rút Zika của của đối tượng. Địa điểm và thời gian nghiên cứu - Địa điểm nghiên cứu: Toàn bộ các tỉnh, thành phố của Việt Nam - Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 01/04/2017 đến 30/08/2017.
  5. 4 Phương pháp nghiên cứu Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp hồi cứu. Cỡ mẫu nghiên cứu Toàn bộ bệnh nhân được chẩn đoán xác định nhiễm vi rút Zika ở tất cả các tỉnh thành của Việt Nam. Thực tế chúng tôi thu nhận được 251 đối tượng. Cách chọn mẫu Chọn mẫu thuận tiện: Chọn mẫu tất cả các hồ sơ bệnh án được chẩn đoán xác định nhiếm vi rút Zika trên địa bàn cả nước. Công cụ nghiên cứu - Bệnh án nghiên cứu. - Báo cáo ca bệnh từ tất cả các tỉnh thành có bệnh nhân nhiễm vi rút Zika. Các bước nghiên cứu - Bước 1: Lựa chọn các trường hợp bệnh đạt các tiêu chuẩn lựa chọn. - Bước 2: Thu thập thông tin từ bệnh án nghiên cứu và báo cáo trường hợp bệnh của các tỉnh thành có bệnh nhân nhiễm vi rút Zika. - Bước 3: Hoàn thành bộ câu hỏi nghiên cứu. - Bước 4: Nhập và xử lý số liệu. Thu thập số liệu Việc tổ chức thu thập số liệu được thực hiện qua các bước sau: - Bước 1: Xây dựng, thử nghiệm và hoàn thiện công cụ nghiên cứu. - Bước 2: Tiến hành thu thập số liệu. - Bước 3: Sàng lọc, làm sạch, mã hóa và nhập số liệu.
  6. 5 Phân tích và xử lý số liệu - Số liệu được mã hóa và nhập bằng phần mềm Excel. - Số liệu sau khi nhập và làm sạch được phân tích bằng phần mềm SPSS 20. Các thống kê mô tả và suy luận được sử dụng. Sai số và khống chế sai số trong nghiên cứu - Sai số hệ thống: • Do bệnh án không đủ thông tin • Do kỹ năng của điều tra viên. • Nhập số liệu vào máy tính - Cách hạn chế: • Hỏi kỹ các thông tin của địa phương về các bệnh án không đủ thông tin để hoàn thiện. • Tập huấn kỹ cho điều tra viên cách thu thập thông tin. • Các số liệu sau khi đã nhập vào máy tính, sẽ được đối chiếu lại với các thông số ở phiếu điều tra. Hạn chế của nghiên cứu và cách khắc phục - Đối tượng được chọn vào nghiên cứu đều là bệnh nhân đã được chẩn đoán xác định nhiễm vi rút Zika vì vậy thiếu thông tin và khó để xác định được các yếu tố liên quan tới tỷ lệ mắc của bệnh. - Khắc phục hạn chế nghiên cứu bằng cách hỏi về thông tin bệnh nhân qua điện thoại, email hoặc trực tiếp các cán bộ có chuyên môn để tìm hiểu về các yếu tố có thể có liên quan tới tỷ lệ mắc bệnh. Đạo đức trong nghiên cứu - Nghiên cứu được thông qua hội đồng khoa học trường Đại Học Thăng Long.
  7. 6 - Kết quả nghiên cứu chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu và chăm sóc sức khỏe bệnh nhân. Kết quả- bàn luận Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu: Theo kết quả nghiên cứu trên cả nước trong 2 năm 2016 tới 2017 của chúng tôi có 251 ca mắc Zika. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi về tổng số đối tượng mắc Zika tại Việt Nam thấp hơn so với ở Singapore cùng thời điểm với 8,7/100.000 dân (442 trường hợp mắc), Thái Lan 1,3/100.000 dân (852 trường hợp mắc) và ở Philippines 0,3/100.000 dân (262 trường hợp mắc), tỷ lệ mắc của cả nước trong nghiên cứu của chúng tôi là 0,2/100.000 dân. Ngoài ra, cũng đã ghi nhận 06 trường hợp người nước ngoài được phát hiện nhiễm vi rút Zika sau khi từ Việt Nam trở về gồm: Hàn Quốc (04), Đức (01), Đài Loan (01). 03 trường hợp người nước ngoài khác (Israel, Úc, Đức) xét nghiệm dương tính với vi rút Zika sau khi trở về từ Việt Nam tuy nhiên không đủ thông tin về lây nhiễm vi rút Zika trong thời gian ở Việt Nam. Đặc điểm nhân khẩu học của các đối tượng nghiên cứu cho thấy đa số đối tượng mắc bệnh do vi rút Zika là nữ giới với 70,5% cao gấp 2,3 lần tỷ lệ này ở nam giới (29,5%). Nhóm tuổi có tỷ lệ cao nhất là 15-29 tuổi với 51,0% đối tượng, sau đó là 37,5% đối tượng trong nhóm 30-49 tuổi. Rất ít đối tượng nghiên cứu ≥ 50 tuổi (8,3%) và <2 tuổi (0,4%). Chỉ có 12,4% đối tượng đang đi học. Phần lớn đối tượng mắc bệnh do vi rút Zika vào năm 2016 với 87,3% cao gấp 6,8 lần tỷ lệ mắc bệnh do vi rút Zika vào năm 2017 (12,7%). Về phân bố đối tượng mắc bệnh do vi rút Zika theo giới tính, cho tới nay chưa có nghiên cứu nào ở Việt Nam về sự khác biệt này. Về độ tuổi, các đối tượng mắc bệnh do vi rút Zika chủ yếu là người trưởng thành. Các dữ liệu về tuổi của đối tượng mắc bệnh do vi rút Zika còn hạn chế,
  8. 7 nhất là ở Việt Nam thì cho tới nay chưa có nghiên cứu nào về Zika chỉ ra phân nhóm tuổi của đối tượng này, tuy nhiên dựa trên những thông tin có được thì độ tuổi mắc bệnh do vi rút Zika nhiều nhất ở tất cả các quốc gia là khoảng 15 đến 49 tuổi. Phần lớn đối tượng mắc bệnh do vi rút Zika tập trung ở thành phố Hồ Chí Minh với 208/251 đối tượng chiếm, 82,9%. Đứng tỷ lệ thứ hai là tại Đồng Nai với 4,4% đối tượng, tiếp theo là Bình Dương (3,6%), Khánh Hòa 2,8%, Long An 1,6%. Các tỉnh thành còn lại mỗi tỉnh chỉ có 1 đối tượng nghiên cứu chiếm 0,4%. Giải thích cho phân bố bệnh nhân Zika theo địa lý tại Việt Nam có thể lý giải là vi rút Zika hiện diện ở khắp nơi trên thế giới, chu trình truyền bệnh liên quan đến muỗi, do đó Zika trở thành một tác nhân gây bệnh mới nổi quan trọng tác động trên phạm vi toàn cầu chưa lường trước được. Tuy nhiên không có trường hợp bệnh nào ở miền Bắc mà tập trung chủ yếu ở miền Nam và khu vực Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, điều này có thể liên quan đến thời tiết và mùa cũng như lượng mưa giúp muỗi phát triển thuận lợi và gây bệnh cho người. Vào ngày 1 tháng 2 năm 2016, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cũng có nhận xét tương tự khi ban bố tình trạng Khẩn cấp Y tế Công cộng Quốc tế về vi rút Zika, sau khi tham khảo ý kiến từ các chuyên gia hàng đầu về dịch tễ học, y tế công cộng và bệnh truyền nhiễm từ khắp thế giới tại một cuộc họp của Ủy ban khẩn cấp y tế quốc tế thuộc WHO và đưa ra yếu tố véc tơ muỗi liên quan tới chu trình truyền bệnh và mùa mắc bệnh Zika trên thế giới. Đặc điểm dịch tễ học bệnh do vi rút Zika Đối tượng mắc bệnh do vi rút Zika tập trung chủ yếu từ tuần 43 đến tuần 53. Trong đó nhiều nhất ở các tuần từ 46 tới tuần 52. Từ tuần 6 tới tuần 40 hầu như chỉ có 1-2 đối tượng mắc bệnh do vi rút Zika trong một tuần. Cao điểm nhất là tuần thứ 50 với 37/251 ca.
  9. 8 Tuần từ 43 tới tuần 53 là mùa mưa của khu vực miền Nam, miền Tây cũng như khu vực Tây Nguyên tạo thuận lợi cho muỗi phát triển nên dịch tễ học của Zika tại Việt Nam cũng như nghiên cứu của chúng tôi là hợp lý. Ngoài ra phân tích theo năm thì năm 2016 thì có các đối tượng mắc bệnh do vi rút Zika xuất hiện bắt đầu từ tuần 33 tới tuần 53, trong đó phát triển rầm rộ nhất vào tuần 46-50. Ngược lại tới năm 2017 thì các trường hợp mắc bệnh do vi rút Zika mới xuất hiện rải rác từ 1 đến 7 ca từ tuần 1 tới tuần 32; tuần 33 của năm 2017 lại là tuần kết thúc mắc Zika. Sự phân bố Zika theo năm 2016 và 2017 cũng hợp lý theo diễn biến của bệnh từ trường hợp khởi phát tới khi kết thúc trong vòng đúng 1 năm từ tuần 33 năm 2016 tới tuần 33 năm 2017 thì Việt Nam đã kiểm soát tốt bệnh dịch này. Như vậy tới đầu năm 2017 cho tới tuần 33 thì số trường hợp mắc mới bệnh Zika có chiều hướng giảm dần đều. Thông tin về tiền sử sản khoa, bệnh tật Chỉ có 1/251 trường hợp có tiền sử mắc sốt xuất huyết (0,4%). Về tiền sử mắc viêm não Nhật bản có 8,4% đối tượng mắc. Có tới 26,5% đối tượng nghiên cứu mắc bệnh do vi rút Zika là đang mang thai (47/177 ca nữ). Trong 47 bệnh nhân Zika có thai, tuổi thai trung bình là 21,3±8,6 tuần. Thấp nhất là 1 tuần và cao nhất là 36 tuần tuổi. Trong 47 bệnh nhân Zika có thai, kết quả siêu âm cho thấy có 1/47 ca bị tật đầu nhỏ và 1/47 trường hợp có kết quả chậm phát triển. Có 2/251 trường hợp nghiên cứu bị biến chứng thai kỳ nghi do vi rút Zika (0,8%). Trong số 2 ca này thì biến chứng đầu nhỏ có 1 trường hợp và làm thai chậm phát triển có 1 trường hợp. Bệnh nhân là trẻ sơ sinh 4 tháng tuổi tại tỉnh Đắc Lắk với tình trạng là đẻ sống, bị đầu nhỏ, bị hóa vôi nội sọ, bị bất thường thính giác, bất thường mắt, tiền sử mẹ của bé bị Zika khi mang thai, xét nghiệm có vi rút Zika và tuổi thai khi sinh là 36 tuần tuổi. Thông tin về trường hợp trẻ bị đầu nhỏ
  10. 9 duy nhất trong nghiên cứu này là ở H'Lệ Mlô, nữ, sinh ngày 12/06/2016 (4 tháng tuổi). Địa chỉ: tại xã Cư Pơng, huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk. Tiền sử: Trẻ đẻ thường tại BVĐK Thị xã Buôn Hồ, tuổi thai 36 tuần, nặng 2.600 gram. Sau khi sinh đã phát hiện có đầu nhỏ. Không có số đo vòng đầu, vòng ngực, chiều cao khi sinh. Ra viện sau 5 ngày. Trẻ bú tốt, gia đình nói trẻ hay quấy khóc, thỉnh thoảng bị viêm đường hô hấp trên. Bé đã được tiêm BCG. Lúc bé 3 tuổi hàng xóm nói thấy đầu cháu nhỏ gia đình đưa đi khám tại BVĐK Đắk Lắk, sau đó được chuyển đi BV Nhi đồng I. Kết quả khám tại BV Nhi đồng I cho thấy hình ảnh siêu âm não với các não thất: giãn sừng trán não thất bên d = 9,6cm, thiểu sản thùy trán 2 bên. Màng nội mạc tủy bình thường. Cấu trúc não: không thấy vách trong suốt, vôi hóa mạch máu nhân nền. Đường M không di lệch. Không thấy tụ dịch bất thường dưới màng cứng. Kết luận: thiểu sản não trước. Chụp Xquang sọ: hình ảnh xương sọ bé. Thông tin về mẹ của trẻ đầu nhỏ trong nghiên cứu chúng tôi cụ thể là H’Blươm Mlô, sinh năm 1993. Dân tộc Ê đê. Tiền sử sản khoa: Có 2 con, con đầu 5 tuổi, khỏe mạnh. Người mẹ cho biết trước khi mang thai lần này có lần khám ở phòng khám tư nhân cho biết có men gan tăng tuy nhiên không có dấu hiệu vàng mắt, vàng da. Lần mang thai này: Khi mang thai tháng thứ 3 có ngấy sốt nhưng không đo nhiệt độ, kèm theo có phát ban và ngứa toàn thân, mệt mỏi, đau nhức đầu, không đau mắt, không đi khám, tự mua thuốc về uống, cùng thời gian này có chị gái ruột ở nhà bên cạnh cũng có sốt và phát ban. Trước và trong những tháng đầu thời kỳ mang thai người mẹ chỉ đi rẫy, không đi đâu xa, người trong nhà cũng không có ai có biểu hiện ốm sốt. Mẹ trẻ đã tiêm phòng mũi thứ 3 vắc xin phòng uốn ván (2 lần vào lần mang thai thứ nhất). Ngoài ra không có tiêm hoặc dùng các thuốc điều trị, thuốc đông y/dân gian nào khác trong quá trình mang thai. Không có