Tóm tắt Luận văn Thực trạng quản lý chất thải y tế tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa và một số yếu tố liên quan năm 2018
Bạn đang xem tài liệu "Tóm tắt Luận văn Thực trạng quản lý chất thải y tế tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa và một số yếu tố liên quan năm 2018", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
tom_tat_luan_van_thuc_trang_quan_ly_chat_thai_y_te_tai_benh.pdf
Nội dung tài liệu: Tóm tắt Luận văn Thực trạng quản lý chất thải y tế tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa và một số yếu tố liên quan năm 2018
- 1 ĐẶT VẤN ĐỀ Chất thải y tế đã và đang là vấn đề quan tâm của toàn xã hội nói chung và của ngành y tế, môi trường nói riêng. Chất thải y tế tiềm ẩn những nguy cơ rủi ro lây nhiễm các mầm bệnh hoặc gây nguy hại cho người bệnh, nhân viên y tế và cộng đồng nếu không được quản lý theo cách tương ứng và từng loại chất thải. Phân loại và thu gom chất thải rắn y tế đang nhận được sự quan tâm của cộng đồng, đặc biệt là đối với các chất thải có chứa mầm bệnh [16]. Ước tính có tới 10 – 25% chất thải rắn y tế nguy hại, nếu không được quản lý và xử lý tốt sẽ là nguồn lây nhiễm nguy hiểm cho con người. Ngoài ra, việc xả rác bừa bãi chất thải y tế còn có thể gây ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm không khí... [1], [37]. Hiện nay, vì nhiều lý do, trong đó có áp lực từ nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân, sự quá tải của nhiều bệnh viện, sự thiếu đồng bộ cơ sở hạ tầng của bệnh viện nên dẫn tới vệ sinh môi trường của nhiều bệnh viện chưa được đảm bảo. Phương tiện thu gom chất thải y tế như túi, thùng đựng chất thải, xe đẩy rác, nhà chứa rác, còn thiếu và chưa đồng bộ, hầu hết chưa đạt tiêu chuẩn theo yêu cầu của Quy chế quản lý chất thải y tế. Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa là bệnh viện hạng I với 1200 giường bệnh. Ngay khi có Quyết định số 1788/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh hóa đã tích cực triển khai nhiều hoạt động để hướng tới xử lý triệt rác thải, giảm thiểu tối đa ô nhiễm môi trường [3]. Để đánh giá thực trạng công tác bảo vệ môi trường của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa, chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài về: "Thực trạng quản lý chất thải y tế tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa và một số yếu tố liên quan năm 2018”với 2 mục tiêu: 1. Mô tả thực trạng quản lý chất thải y tế tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa năm 2018. 2. Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành về phân loại và thu gom chất thải rắn y tế của đối tượng nghiên cứu.
- 2 Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1. Một số khái niệm về quản lý chất thải y tế 1.1.1. Một số khái niệm về quản lý chất thải y tế Chất thải y tế là chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động của các cơ sở y tế, bao gồm chất thải y tế nguy hại, chất thải y tế thông thường và nước thải y tế. Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố lây nhiễm hoặc có đặc tính nguy hại khác vượt ngưỡng chất thải nguy hại, bao gồm chất thải lây nhiễm và chất thải nguy hại không lây nhiễm. Quản lý chất thải y tế là quá trình giảm thiểu, phân định, phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái chế, xử lý CTYT và giám sát quá trình thực hiện. Giảm thiểu chất thải y tế là các hoạt động làm hạn chế tối đa sự phát thải chất thải y tế. Thu gom chất thải y tế là quá trình tập hợp chất thải y tế từ nơi phát sinh và vận chuyển về khu vực lưu giữ, xử lý CTYT trong khuôn viên cơ sở y tế. Vận chuyển chất thải y tế là quá trình chuyên chở chất thải y tế từ nơi lưu giữ chất thải trong cơ sở y tế đến nơi lưu giữ, xử lý chất thải của cơ sở xử lý chất thải y tế cho cụm cơ sở y tế, cơ sở xử lý chất thải y tế nguy hại tập trung hoặc cơ sở xử lý chất thải nguy hại tập trung có hạng mục xử lý chất thải y tế. 1.2. Thực trạng quản lý chất thải y tế Thực trạng quản lý chất thải y tế trên thế giới Nghiên cứu về CTYT đã được tiến hành tại nhiều nước trên thế giới, đặc biệt ở các nước phát triển như Anh, Mỹ, Nhật, Canada... Các nghiên cứu đã quan tâm đến nhiều lĩnh vực như tình hình phát sinh; phân loại CTYT; quản lý CTYT (biện pháp làm giảm thiểu chất thải, tái sử dụng chất thải, xử lý chất thải, đánh giá hiệu quả của các biện pháp xử lý chất thải...); tác hại của CTYT đối với môi trường, sức khoẻ; biện pháp làm giảm tác hại của CTYT đối với sức khỏe cộng đồng, sự đe dọa của chất thải nhiễm khuẩn tới sức khỏe cộng đồng, ảnh hưởng của nước thải y tế đối với việc lan truyền dịch bệnh; những vấn đề liên quan của y tế công cộng với CTYT; tổn thương
- 3 nhiễm khuẩn ở điều dưỡng, hộ lý và người thu gom rác; nhiễm khuẩn bệnh viện, nhiễm khuẩn ngoài bệnh viện đối với người thu nhặt rác, vệ sinh viên và cộng đồng; người phơi nhiễm với HIV, HBV, HCV ở nhân viên y tế [50], [51], [54], [55]. Thực trạng quản lý chất thải y tế tại Việt Nam Hiện nay, cả nước có 13.511 cơ sở y tế bao gồm các cơ sở khám chữa bệnh và dự phòng từ cấp Trung ương đến địa phương với lượng chất thải rắn phát sinh vào khoảng 450 tấn/ngày, trong đó có 47 tấn/ngày là chất thải rắn y tế nguy hại. Lượng nước thải phát sinh từ các cơ sở y tế có giường bệnh là khoảng 125.000 m3 /ngày. Theo số liệu thống kê (công bố) của Cục Quản lý môi trường Y tế, năm 2011, uớc tính đến năm 2015 lượng chất thải rắn y tế phát sinh sẽ là 590 tấn/ngày và đến năm 2020 là khoảng 800 tấn/ngày. Về khí thải y tế nguy hại, lượng phát sinh chủ định từ hoạt động chuyên môn của ngành y tế không nhiều, chủ yếu phát sinh từ các cơ sở y tế có các phòng thí nghiệm phục vụ công tác nghiên cứu và đào tạo y dược. Tuy nhiên lượng khí thải hình thành không chủ định từ hoạt động xử lý chất thải y tế vẫn còn chưa được kiểm soát [24]. 1.3. Một số yếu tố liên quan đến quản lý chất thải y tế Hệ thống văn bản pháp lý về quản lý chất thải y tế: - Luật Bảo vệ môi trường và các Nghị định hướng dẫn thực hiện Luật. Điều 39, Luật Bảo vệ môi trường 2005 đã đưa ra các quy định về bảo vệ môi trường trong bệnh viện và các cơ sở y tế. - Thông tư 36/2015/TT- BTNMT ngày 30/6/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quản lý chất thải nguy hại - Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31/12/2015 của Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định quản lý chất thải y tế - Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu Nguồn nhân lực làm công tác quản lý chất thải Trình độ hiểu biết của Nhân viên y tế về quản lý chất thải y tế Về kinh phí và trang thiết bị xử lý chất thải: Mức độ hiểu biết của nhân dân về quản lý chất thải y tế.
- 4 Chương II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 2.1.1. Đối tượng nghiên cứu ▪ Chất thải y tế: - Chất thải rắn y tế: Chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường. - Nước thải bệnh viện: Nước thải ra từ các hoạt động của bệnh viện. ▪ Nhân viên y tế là những người phơi nhiễm với chất thải y tế nguy hại. Gồm có Bác sỹ và Điều dưỡng. ▪ Cơ sở vật chất, trang thiết bị quản lý chất thải: - Dụng cụ thu gom, vận chuyển, lưu giữ chất thải y tế. - Hệ thống thoát nước và xử lý nước thải. 2.1.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu tháng 5 đến tháng 9 năm 2018 tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa. 2.2. Phương pháp nghiên cứu 2.2.1. Thiết kế nghiên cứu: là nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích. 2.2.2. Cỡ mẫu và cách chọn mẫu - Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu cho mục tiêu 1: ▪ Chất thải rắn: Cân định lượng toàn bộ rác thải hàng ngày của bệnh viện 1 lần/ngày, cân liên tục hàng ngày. ▪ Nước thải bệnh viện: Lấy nước thải tại hố ga sau khi đã qua hệ thống xử lý, 2 lần (tháng 6 và tháng 9). Làm 7 chỉ số xét nghiệm: + - - pH, COD, BOD5, N/NH4 , N/NO3 , N/NO2 , tổng chất thải lơ lửng và Coliforms. ▪ Cỡ mẫu quan sát thực trạng phân loại chất thải rắn y tế: quan sát tại các khoa lâm sàng. Quan sát tất cả các thùng rác trên xe tiêm, xe thay băng trong 3 ngày mỗi ngày 2 lượt sáng và chiều trước khi thu gom. Cỡ mẫu: áp dụng công thức tính cỡ mẫu nghiên cứu mô tả. 2 p.(1− p) n = Z (1−α/ 2) d 2 n: Cỡ mẫu cần nghiên cứu p=0,455: Tỷ lệ nhân viên y tế đạt thực hành thu gom chất thải rắn y tế (45,5%) theo nghiên cứu của Phạm Đức Giang tại Bệnh viện Y học cổ truyền Kiến Giang (2016) [30].
- 5 Z1-α/2: Hệ số tin cậy, ứng với độ tin cậy 95%( α=0,05)→ Z1-α/2= 1,96 d: Sai số tuyệt đối so với p, chọn d = 0,049 Thay các tham số vào công thức trên tính được n = 397 ➔ Trên thực tế nghiên cứu thực hiện trên 400 đối tượng. Phương pháp chọn mẫu: chọn mẫu tầng theo tỷ lệ Khoa, phòng Số NV Cỡ mẫu I. Xét nghiệm 88 55 II. Khối ngoại 180 117 III. Khối nội 178 93 IV. Hồi sức tích cực, Cấp cứu 105 96 V. Chuyên khoa 70 39 Chọn mẫu phỏng vấn: Lập danh sách nhân viên y tế theo từng khoa, sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên thống để chọn đủ số nhân viên y tế. 2.3. Biến số và chỉ số nghiên cứu: Biến số, chỉ số theo 2 mục tiêu nghiên cứu. - Cách đánh giá: ▪ Thang điểm cho các biến số nghiên cứu Tiêu chuẩn đánh giá dựa theo Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT- BYT-BTNMT ngày 31/12/2015 của Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định quản lý chất thải y tế và theo tác giả Nguyễn Văn Chuyên [23], [13], nhóm nghiên cứu dưa ra cách cho điểm kiến thức, thực hành về quản lý chất thải y tế của nhân viên y tế như sau: ▪ Kiến thức (điền phiếu trả lời) Mỗi kiến thức đạt sẽ được 1 điểm, kiến thức chưa đạt là 0 điểm. Tổng tối đa là 49 điểm. Phân loại: Kiến thức đạt: khi đạt từ 75% tổng số điểm trở lên (≥ 36 điểm) Kiến thức chưa đạt: khi đạt duới 75% ▪ Tự đánh giá thực hành (điền phiếu trả lời) Mỗi thực hành sẽ được 1 điểm, thực hành không đúng hoặc không thực hành là 0 điểm. Tổng số điểm tối đa là 25. Phân loại: Thực hành tốt: khi đạt từ 75% tổng số điểm trở lên (từ ≥ 18 điểm) ▪ Quan sát thực hành Không làm 0 điểm, Có làm 1 điểm, làm đúng 2 điểm. Tối đa 50 điểm. Thực hành tốt: khi đạt từ 75% tổng số điểm trở lên 2.4. Phân tích và xử lý số liệu
- 6 Nhập liệu bằng phần mềm Epi Data 3.1. Số liệu được làm sạch và mã hóa trước khi phân tích. Phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 20.0 2.5. Đạo đức nghiên cứu Nghiên cứu được Hội đồng Đạo đức Trường Đại học Thăng Long thông qua. Nghiên cứu được được lãnh đạo bệnh viện, Hội đồng Kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh hóa phê duyệt và Hội đồng đạo đức của Trường Đại học Thăng Long thông qua. 2.6. Hạn chế nghiên cứu - Phiếu khảo sát được nhân viên đánh tập trung trong một phòng, nên không tránh khỏi giống nhau và khi cán bộ khảo sát quan sát thì công việc phân loại thu gom ý thức có thay đổi. - Giới hạn của đề tài chỉ dừng lại nghiên cứu trong phạm vi ở Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa, do đó chưa có được những đánh giá sâu sắc, cụ thể về thực trạng quản lý rác thải y tế trên phạm vi rộng của toàn tỉnh và cả nước. - Từ thực trạng được bàn đến trong giới hạn của đề tài, các giải pháp đưa ra có giá trị áp dụng trực tiếp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý rác thải y tế tại bệnh viên đa khoa tỉnh Thanh Hóa. Đối với các bệnh viện khác dừng lại ở mức độ để làm tài liệu tham khảo và có khả năng áp dụng cho các bệnh viện có điều kiện, đặc điểm tương tự như Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa.
- 7 Chương III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1. Thực trạng quản lý chất thải y tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa năm 2018 Bảng 3.1. Thực trạng lượng chất thải rắn y tế tại bệnh viện Chỉ số NC Đơn vị Trung bình Giường bệnh GB 1200 CTRYT Kg/ngày 5464,5 CT Thông thường Kg/ngày 5295,6 CTYT NH Kg/ngày 168,9 CTRYT/GB Kg/ngày 4,6 CTYTNH/ GB Kg/GB/ ngày 0,14 CTYTNH/ CTRYT % 3,1 Lượng chất thải y tế nguy hại chiếm gần 3,1% chất thải rắn y tế thải ra hàng ngày trong bệnh viện. Bảng 3.2. Thực trạng chất lượng nước thải bệnh viện Kết quả Tên chỉ tiêu Đơn vị tính Lần 1 Lần 2 pH 7,46 7,45 Hàm lượng COD mg/l 98,2 98,3 Hàm lượng BOD5 mg/l 46,8 46,7 Tổng chất rắn lơ lửng mg/l 89,5 89,4 + Hàm lượng N/NH4 mg/l 8,1 8,2 - Hàm lượng N/NO3 mg/l 10,8 10,9 - Hàm lượng N/NO2 mg/l 4,3 4,3 Coliforms MNP/100ml 4.6.103 4.6.103 Qua 2 lần quan trắc chất lượng nước thải y tế đầu ra, của hệ thống xử lý nước thải, cho thấy các chỉ số đều cho phép trong nước thải y tế khi thải vào các nguồn nước không dùng cho mục đích cấp nước sinh hoạt (Theo QCVN 28:2010/BTNMT). - Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
- 8 Bảng 3.3. Số NVYT làm ở các bộ phận tham gia khảo sát Bộ phận công tác Số lượng Tỷ lệ % Khối Ngoại 117 29,3 Khối Nội 93 23,3 Hồi sức tích cực, Cấp cứu 96 24,0 Chuyên khoa 39 9,7 Xét nghiệm 55 13,7 Bộ phận có số người tham gia khảo sát đông nhất là khối Ngoại với 117 người chiếm 29,3%; Hồi sức tích cực, Cấp cứu 96 người chiếm 24% và khối Nội 93 người chiếm 23,3%. Hai khoa có số lượng tham gia ít là: Chuyên khoa 39 người (9,7%) và Xét nghiệm 55 người (13,7%). - Kiến thức, thực hành về quản lý chất thải y tế Bảng 3.4. Kiến thức phân loại, thu gom chất thải y tế (n = 400) Kiến thức Đạt Không Kiến thức cơ bản về chất thải y tế 344 (86,0) 56 (14,0) Quy định chung về quản lý chất thải y tế 383 (95,7) 17 (4,3) Giảm thiểu chất thải y tế 356 (89,0) 44 (11,0) Mã màu, dán nhãn và tiêu chuẩn túi, 383 (95,7) 17 (4,3) thùng đựng chất thải y tế Quy trình phân loại, thu gom chất thải 392 (98,0) 8 (2,0) An toàn lao động và ứng phó sự cố 354 (88,5) 46 (11,5) Số liệu bảng 3.4 thể hiện kiếnthức phân loại, thu gom chất thải y tế tại bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa. Trong số 400 người tham gia khảo sát,kiến thức đúng về quy trình phân loại, thu gom chất thải đạt tỉ lệ cao nhất (98,0%); quy định chung về quản lý chất thải y tế và mã màu, dán nhãn tiêu chuẩn túi, thùng đựng chất thải y tế đều có tỉ lệ 95,7% . Kiến thức cơ bản về chất thải y tế và an toàn lao động, ứng phó với sự cố lao động có tỷ lệ thấp nhất với lần lượt là 86,0 và 88,5%.
- 9 Biểu đồ 3.1. Thực trạng tự khai báo phơi nhiễm với vật sắcnhọn Biểu đồ 3.1 cho ta thấy có 5,8% nhân viên y tế khai báo bị phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong 6 tháng vừaqua và 94, 2% không bị phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong vòng 6 tháng vừa qua. Biểu đồ 3.2. Thực trạng tự khai báo phơi nhiễm với máu, dịch Biểu đồ 3.2 cho thấy chỉ có 3% nhân viên y tế khai báo bị phơi nhiễm với máu, dịch trong 6 tháng vừa qua và 97% không bị phơi nhiễm với máu, dịch trong vòng 6 tháng vừa qua. Biểu đồ 3.3. Thực trạng tự khai báo tiêm viêm gan B (n=400)
- 10 Biểu đồ 3.3 cho thấychỉ có 8,8% khai báo tiêm đủ 3 mũi phòng viêm gan B; 73% tiêm không đủ 3 mũi còn lại 18,2% không tiêm phòng.. Biểu đồ 3.4. Tập huấn kiến thức về quản lý chất thải y tế (n=400). Biểu đồ 3.4 cho thấy có 98 % được tập huấn kiến thức về quản lý chất thải y tế và chỉ có 2% không tham gia tập huấn. Biểu đồ 3.5. Thực trạng tập huấn kiến thức về quản lý chất thải y tế theo nhóm tuổi (n =400) Biểu đồ 3.5 cho thấy tỷ lệ được tập huấn theo các nhóm tuổi của NVYT. Hầu hết NVYT ở các nhóm tuổi được tập huấn về quản lý chất thải y tế chiếm tỷ lệ từ 96,8% đến 98,0%. Số người không tham gia tập huấn chiếm tỷ lệ thấp. Ở độ tuổi dưới 35 tỷ lệ người không tham gia tập huấn chiếm 2% (6 người); Tỉ lệ này ở độ tuổi từ 35-50 chiếm 1,4% (1 người), và độ tuổi trên 50 chiếm 3,2% (1 người).

