Tóm tắt Luận văn Thực trạng mắc sốt rét của người dân và một số yếu tố liên quan tại 2 xã IA Pnon và IAdom, huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai - Năm 2018
Bạn đang xem tài liệu "Tóm tắt Luận văn Thực trạng mắc sốt rét của người dân và một số yếu tố liên quan tại 2 xã IA Pnon và IAdom, huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai - Năm 2018", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
tom_tat_luan_van_thuc_trang_mac_sot_ret_cua_nguoi_dan_va_mot.pdf
Nội dung tài liệu: Tóm tắt Luận văn Thực trạng mắc sốt rét của người dân và một số yếu tố liên quan tại 2 xã IA Pnon và IAdom, huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai - Năm 2018
- BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG HOÀNG THỊ YẾN THỰC TRẠNG MẮC SỐT RÉT CỦA NGƯỜI DÂN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI 2 XÃ IA PNON VÀ IADOM, HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI- NĂM 2018 TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG Hà Nội, 2018
- BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG HOÀNG THỊ YẾN THỰC TRẠNG MẮC SỐT RÉT CỦA NGƯỜI DÂN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI 2 XÃ IA PNON VÀ IADOM, HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI- NĂM 2018 CHUYÊN NGÀNH: Y TẾ CÔNG CỘNG MÃ SỐ: 8720701 TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG Hà Nội, 2018
- 1 ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam, từ một nước có tình hình sốt rét nặng với trên 1 triệu ca mắc, xấp xỉ 5 nghìn ca tử vong và 144 vụ dịch sốt rét vào năm 1991 [3], sau hơn 25 năm nỗ lực phòng chống sốt rét (PCSR), đến nay tỷ lệ hiện mắc và tử vong do sốt rét đã giảm thấp. Mặc dù, đến nay, mức độ lưu hành bệnh đã thu hẹp dần về phạm vi địa lý tuy nhiên sốt rét vẫn lây truyền dai dẳng tại các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên như Đak Lak, Đak Nông, Gia Lai, Kon Tum và Bình Phước thậm chí còn diễn biến nặng nề, phức tạp so với các khu vực khác trong cả nước và có khả năng bùng phát thành dịch. Các tỉnh Tây Nguyên có biên giới với Campuchia và Lào, bên cạnh đó nhận thức và thực hành phòng chống sốt rét của người dân thấp, tiếp cận các dịch vụ y tế cũng bị hạn chế làm cho tình trạng lây nhiễm sốt rét kéo dài.Với vị trí địa hình khu vực có mức độ bao phủ rừng cao, thảm thực vật phong phú rất thuận lợi cho muỗi sốt rét phát triển, là nơi sinh sống của các cộng đồng dân tộc thiểu số có tình trạng kinh tế - xã hội kém phát triển, tập quán du canh, nhiều tập quán sinh hoạt lạc hậu, các cộng đồng thiểu số hai bên biên giới có quan hệ họ hàng và thường qua lại thăm thân nhau, tất cả những yếu tố trên góp phần làm cho tình trạng sốt rét khu vực này thêm dai dẳng và phức tạp. Hơn nữa, khu vực biên giới là nơi người dân từ các vùng sốt rét lưu hành thấp hay không có sốt rét lưu hành thường qua lại và giao thương, đa phần họ không có hoặc có miễn dịch sốt rét một phần.Đây là những đối tượng dễ phơi nhiễm và có khả năng mắc sốt rét cao và có thể mang mầm bệnh sốt rét, nguồn lây truyền cho các khu vực khác. Trong những năm qua, Gia Lai là một trong số các tỉnh của khu vực Tây Nguyên có tình tình sốt rét phức tạp, là tỉnh có biên giới với Ratanakiri một tỉnh sốt rét lưu hành nặng của Campuchia. Theo số liệu báo cáo, số mắc sốt rét năm 2015 ở Gia Lai gia tăng ở nhiều nơi, đặc biệt là tại các vùng có nhiều dân đi rừng, ngủ rẫy biên giới. Gia Lai có số ca mắc sốt rét cao nhất các so với các tỉnh khu vực Tây Nguyên và cao nhất trong 10 tỉnh có số lượng ký sinh trùng sốt rét (KSTSR) cao nhất trong toàn quốc, là 1 trong 5 tỉnh có tỷ lệ kháng thuốc cao nhất cả nước [3]. Để đánh giá tình hình sốt rét trong cộng đồng người dân tộc Gia Rai ở khu vực biên giới, đề tài “Thực trạng mắc sốt rét và một số yếu tố liên quan tại 2 xã IaPnon và Ia Dom huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai năm 2018”, với các mục tiêu: 1. Mô tả thực trạng mắc sốt rét của người dân tộc Gia Rai tại 2 xã Ia Pnon và Ia Dom, huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai năm 2018;
- 2 2. Phân tích một số yếu tố liên quan đến mắc sốt rét của người dân tộc Gia Rai tại 2 xã nghiên cứu. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN : 1.Nghiên cứu cho thấy tình hình mắc sốt rét tại 2 xã Iadom và IaPnon tại huyện ĐỨC CƠ, tỉnh GIA LAI : Tổng số nghiên cứu 1104 cá thể, Tuổi trung bình của quần thể nghiên cứu là 22,2; nhóm <5 tuổi chiếm 17,03%; từ 5- <15 tuổi chiếm 28,62% và ≥15 tuổi chiếm 54,35%. Nam chiếm 39,86% và nữ chiếm 60,14%. Tỷ lệ KSTSR P.falciparum vẫn là tác nhân gây bệnh chính tại 2 xã nghiên cứu (64,52%) cao hơn P.vivax (32,26%) và có 3,23% nhiễm phối hợp cả 2 loài. Tỷ lệ hiện nhiễm chung (nhiễm KSTSR) là 5,62%; và tỷ lệ hiện mắc sốt rét giữa 2 xã (IaPnon là 5,34% và IaDom là 5,88%) Trong số 62 KSTSR được phát hiện bằng KHV, có 64,52% là KSTSR P.falciparum; sốt rét P.vivax chiếm 32,26% và nhiễm phối hợp chiếm 3,23%; điều này cho thấy rằng: Tỷ lệ mắc sốt rét P.falciparum vẫn cao ở khu vực nghiên cứu. 2.Các yếu tố liên quan đến mắc sốt rét: Sốt rét biên giới, di dân biến động: Tỷ lệ mắc sốt rét ở những người có qua lại biên giới chiếm 11,11% cao hơn những người không qua lại biên giới (8,85%). Những người thường qua lại biên giới vì các mục đích thăm thân và làm việc có khả năng mắc sốt rét cao 0,8 lần (OR= 0,8; [0,31 - 3,5]) so với những người không có qua lại biên giới Tập quán canh tác và thói quen ngủ màn: tỷ lệ mắc sốt rét của người không ngủ màn (17,86%) cao hơn người ngủ màn khi ngủ qua đêm ở rẫy (6,51%) có sự khác nhau có ý nghĩa thông kê Trong số 514 người đi rừng thì có 88 người thường ngủ qua đêm ở rừng và tỷ lệ mắc sốt rét ở nhóm ngủ rừng chiếm 18,18% (16/88) cao hơn nhóm đi rừng nhưng không ngủ lại rừng (7,28%), có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, p<0,05 Hơn nữa, trong nhóm ngủ qua đêm ở rừng, có 12/88 người không ngủ màn và tỷ lệ mắc sốt rét trong nhóm này rất cao (58,33%) so với nhóm có ngủ màn (11,84%), có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, p<0,05. Tỷ lệ mắc sốt rét ở những người có qua lại biên giới chiếm 11,11% cao hơn những người không qua lại biên giới (8,85%).Những người thường qua lại biên
- 3 giới vì các mục đích thăm thân và làm việc có khả năng mắc sốt rét cao 0,8 lần (OR= 0,8; [0,31 - 3,5]) so với những người không có qua lại biên giới Điều kiện nhà ở, qua lại biên giới liên quan đến mắc sốt rét: Những ngưởi sống ở nhà sơ sài mắc sốt rét chiếm 6,47% cao hơn những người sống trong nhà kiên cố (5,18%).. CẤU TRÚC LUẬN VĂN Kết cấu luận văn : Luận văn gồm có 73 trang, trong đó Đặt vấn đề 2 trang; Tổng quan tài liệu 19 trang; Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 09 trang; Kết quả nghiên cứu 14 trang; Bàn luận : 14 trang; Kết luận : 01 trang; Khuyến nghị : 01 trang. Kết quả nghiên cứu được trình bày trong 21 bảng và 02 biểu đồ.Luận văn cũng sử dụng 85 tài liệu tham khảo, trong đó 40 tiếng Việt, 45 tiếng Anh. Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. ĐỊNH NGHĨA, CƠ CHẾ LÂY TRUYỀN, YẾU TỐ GÂY BỆNH SỐT RÉT 1.1. Định nghĩa bệnh sốt rét Bệnh sốt rét là một trong những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm thường xuất hiện ở các nước nhiệt đới do ký sinh trùng sốt rét (KSTSR) Plasmodium của người gây nên. Bệnh lây truyền theo đường máu, chủ yếu do muỗi Anopheles truyền. Bệnh biểu hiện bằng những cơn sốt rét với ba triệu chứng cơ bản: Rét run, sốt, vã mồ hôi. Ở người, bệnh tiến triển có chu kỳ và có hạn định nếu không bị tái nhiễm, bệnh gây miễn dịch đặc hiệu nhưng không bền vững. Bệnh lưu hành ở từng địa phương, có thể gây dịch. Bệnh có thuốc điều trị đặc hiệu và có thể phòng chống được [23]. 1.2. Quá trình lây truyền bệnh sốt rét Ba yếu tố cơ bản có tính chất quyết định đến các yếu tố yếu tố dịch tễ học của bệnh sốt rét trong quá trình lây truyền bệnh sốt rét, bao gồm: Tác nhân gây bệnh là ký sinh trùng sốt rét (KSTSR), véc tơ truyền bệnh là muỗi Anopheles và vật chủ cảm thụ là người, ba yếu tố này phải được nối liền với nhau thì quá trình lây truyền bệnh mới xảy ra. Muỗi Anopheles truyền bệnh sốt rét phải có đủ một số điều kiện bắt buộc, như muỗi phải nhiễm KSTSR (giao bào), muỗi phải sống đủ lâu để những giao
- 4 bào đó phát triển thành thoa trùng, cuối cùng muỗi phải đốt người chưa có miễn dịch hoặc miễn dịch thấp thì mới có lây truyền sốt rét. Tác nhân gây bệnh sốt rét Tác nhân gây bệnh còn gọi là mầm bệnh sốt rét được xác định là ký sinh trùng. Ký sinh trùng sốt rét trong cơ thể người gây ra bệnh sốt rét, chúng chỉ có thể quan sát được bằng kính hiển vi. Ký sinh trùng sốt rét là một đơn bào, họ Plasmodidae, lớp Protozoa, loài Plasmodium. Có khoảng 120 loài Plasmodium, gồm: 22 loài ở động vật tứ chi, 19 loài ở động vật có vú với 70 loài được mô tả ở chim và bò sát. Người không mắc Plasmodium của chim và loài gậm nhấm do có miễn dịch tự nhiên với các loài Plasmodium này. Ngoài 4 loài KSTSR gây bệnh ở người là Plasmodium falciparum, Plasmodium vivax, Plasmodium malariae và Plasmodium ovale, hiện nay chủng KSTSR thứ 5 là Plasmodium knowlesi đã được phát hiện và được chứng minh là có lây truyền bệnh sốt rét (từ khỉ sang) cho người. Trường hợp nhiễm P.knowlesi ở người được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1965 ở một bệnh nhân là người Mỹ trở về nước sau thời gian công tác tại Đông Nam Á, những năm sau đó càng có nhiều báo cáo về trường hợp P.knowlesi trên người. Ở Việt Nam, chủng ký sinh trùng sốt rét P.knowlesi nhiễm ở người (3 trường hợp) được phát hiện đầu tiên ở khu vực rừng núi của tỉnh Ninh Thuận . Các báo cáo nhiễm ký sinh trùng sốt rét P.knowlesi ở người ở Đông Nam Á, đặc biệt là ở Malaysia sau đó phát hiện ở biên giới Thái Lan và Myanmar. Các nghiên cứu về lây nhiễm KSTSR loài P.knowlessi từ động vật sang người vẫn đang được tiếp tục thực hiện nhằm khẳng định loài KSTSR P.knowlessi là thủ phạm lây truyền sốt rét cho người từ khỉ và tỷ lệ mắc bệnh ở loài động vật bậc cao này cho người và loài muỗi Anopheles nào là véc tơ truyền KSTSR loài P.knowlessi sang cho người. P.knowlesi được phát hiện bằng xét nghiệm lam máu giọt dày và giọt đàn giống như phát hiện với các loài KSTSR khác. Hình thể P.knowlesi gần giống như loài KSTSR P.malariae. Do vậy, đôi khi rất khó phân biệt dưới kính hiển vi quang học hay các xét nghiệm viên it kinh nghiệm và để có thể phân biệt chính xác giữa P.malariae và P.knowlesi thì việc sử dụng kỹ thuật sinh học phân tử là được khuyến khích hơn cả. Đối với KSTSR P.malariae và P.knowlesi đều có chung thuốc điều trị là Chloroquine và Primaquine.
- 5 Một chu kỳ phát triển của KSTSR hoàn thành đều phải trải qua 2 giai đoạn, gồm: Giai đoạn sinh sản hữu tính ở cơ thể muỗi (vật chủ chính) và giai đoạn sinh sản vô tính thực hiện ở cơ thể người (vật chủ phụ) gây ra những hiện tượng bệnh lý. Đời sống của KSTSR trong cơ thể người có hạn định, tuỳ theo loại KSTSR mà chúng tồn tại trong cơ thể người lâu hay ngắn. Nếu không bị tái nhiễm hoặc không được điều trị, ký sinh trùng có thể tồn tại ngắn hay dài trong cơ thể của người, cụ thể: P.falciparum từ 1-2 năm; P.vivax và P.ovalae từ 1-5 năm; P.malariae từ 3 - 50 năm . Chu kỳ phát triển vô tính của ký sinh trùng sốt rét trong cơ thể người. Gồm 2 giai đoạn: Giai đoạn trong gan (giai đoạn tiền hồng cầu) và giai đoạn trong máu (giai đoạn hồng cầu). ▪ Giai đoạn trong gan: Muỗi Anophles có khả năng truyền bệnh khi xuất hiện thoa trùng trong hạch nước bọt của muỗi, khi muỗi đốt người, thoa trùng vào máu để lưu thông trong máu tuần hoàn. Sau 30 phút, toàn bộ thoa trùng vào gan và phát triển tại đó, trong tế bào gan thoa trùng cuộn tròn lại rồi phát triển thành thể phân liệt, thể phân liệt vỡ ra giải phóng ra các KSTSR non gọi là (mảnh trùng) “merozoit”, ▪ Giai đoạn hồng cầu: KSTSR từ gan xâm nhập vào hồng cầu, phát triển qua các thể: Tư dưỡng trẻ (sporozoites), tư dưỡng trưởng thành (già), thể phân liệt (schizont) non và thể phân liệt già ở giai đoạn cuối này, chúng phá vỡ hồng cầu và giải phóng các mảnh trùng non vào trong máu, tương ứng với biểu hiện các triệu chúng trên lâm sàng: Sốt, rét run và ra mồ hôi. 3.CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN Nghiên cứu của Xu J và Liu H (1996) thực hiện tại tỉnh Vân Nam nơi có biên giới với Lào, Việt Nam và Myanmar đã cho thấy: Nhiều BNSR ngoại lai là dân tộc thiểu số với tỷ lệ nhiễm P.falciparum tăng là do kết quả di dân biến động [85]. Công nhân đến từ các tỉnh khác của Trung Quốc đến khu vực này làm việc, người dân Trung Quốc làm việc ở các nước láng giềng, qua lại biên giới làm ăn, buôn bán và người tị nạn từ Myanmar. Ngoài ra phần lớn người dân Vân Nam là người dân tộc thiểu số sống ở vùng rừng núi, xa xôi, thói quen và tập quán canh tác và sinh hoạt cũng như khó khăn trong việc tiếp cận với các dịch vụ y tế trong một hoàn cảnh rừng núi, sinh địa cảnh thuận lợi cho sốt rét phát triển, đã làm cho việc quản lý sốt rét vùng biên giới thêm khó khăn.
- 6 Lê Đình Công và CS năm 1998 và 2000 đã có nghiên cứu về sốt rét tại 3 huyện biên giới nước Lào cũng ghi nhận KSTSR là 1,3% và 14,8% tại 2 huyện Kham Keut và Mường Ét thuộc vùng SRLH nặng [6]. Theo tác giả Lê Thuận (2003): Trong khi nền kinh tế được toàn cầu hóa, sự di biến động dân cư, làm ăn tự do gia tăng và không dừng lại ở từng vùng của một quốc gia mà trên phạm vi khu vực và thế giới làm cho sốt rét ngoại lai (Imported Malaria) xâm nhập vào các vùng SRLH vừa, SRLH nhẹ và những vùng không có hay không có sốt rét, sốt rét ngoại lai trở thành một vấn đề mới trong chiến lược PCSR ở từng quốc gia và mỗi địa phương. Nghiên cứu của Lê KhánhThuận tại Nghệ An (2003), cũng cho thấy: Người dân Nghệ An đi làm ăn ở các tỉnh miền Trung-Tây Nguyên, miền đông Nam bộ, Lào đã góp phần gia tăng sốt rét ngoại lai cho tỉnh Nghệ An. Phân tích của tác giả cũng cho thấy: Trong tổng số KSTSR ngoại lai thì số người dân đi làm ăn ở khu vực miền Nam là cao nhất 71,5%; nội tỉnh 16,1% và nhiễm từ Lào là 12,3% [ 32]. Nghiên cứu của Lê Xuân Hùng tại Ea Súp năm 2006, cho thấy: Tỷ lệ KSTSR ở nhóm dân di cư dưới 2 năm là 4,3%. Kết quả phân vùng dịch tễ và thực hành năm 2003 và 2009 đều nhận xét: Các địa phương có đường biên giới với Lào và CămPuChia và thuộc vùng SRLH đều có tỷ lệ mắc sốt rét cao hơn các khu vực khác [20]. Theo Hồ Văn Hoàng (2014), dân di biến động có khả năng nhiễm sốt rét cao hơn người dân không di biến động. Dân sống ở các khu vực tạm thời (lán trại), có tỷ lệ nhiễm KSTSR là 8,42% cao hơn so với 1,18% về tỷ lệ mắc sốt rét của người dân địa phương (nhà cố định) và tỷ lệ nhiễm giao bào trong quần thể dân di biến động chiếm 2,56% cao hơn người dân địa phương (sinh sống cố định) là 0,39% . Kết quả nghiên cứu của Tạ Thị Tĩnh (2002), cho thấy: Tỷ lệ KSTSR ở nhóm dân đi rừng, rẫy là 13,1% và nhóm ngủ qua đêm ở rừng, rẫy là 18,3% đi rừng ngủ rẫy là yếu tố khả năng cao mắc sốt rét ở nhóm [33]. Nghiên cứu của Hoàng Văn Hội (2009) tại huyện Nam Đông và A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế cho thấy: Tỷ lệ mắc sốt rét ở đối tượng đi rừng ngủ rẫy, đi làm ăn xa trở về mắc sốt rét cao hơn những người nơi khác đến làm việc tại địa phương. Nghiên cứu của Hồ Văn Hoàng và cộng sự (2012) tại xã Hàm Cần, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận cho thấy một số nguyên nhân làm sốt rét gia tăng Nghiên cứu của Hồ Văn Hoàng trên quần thể dân di biến động tại xã Hàm Cần, Bình Thuận (2014), cho thấy: Tỷ lệ nhiễm sốt rét P. falciparum chiếm 78,26% cao hơn so với dân ở cố định (66,67%); tỷ lệ nhiễm KSTSR ở nhóm dân
- 7 di biến động trong điều kiện ngủ ở lán trại là 8,42% so với 1,18% người dân cư cố định ở địa phương. Tỷ lệ nhiễm giao bào ở dân di biến động là 2,56% cao hơn dân cố định là 0,39%; tỷ lệ ngủ màn của dân di biến động là 71,31% thấp hơn so với 96,27% dân cố định. Nghiên cứu của Trần Quang Hào thực hiện tại Dak Nông, cho thấy: Tỷ lệ nhiễm KSTSR của nhóm dân di cư tự do chiếm 8,14% ; một số các nghiên cứu trước đây của Hồ Văn Hoàng trên quần thể dân di cư tự do tại xã DakR’mang (2006) cũng cho thấy tỷ lệ lệ nhiễm KSTSR ở dân định cư <1 năm là rất cao so với dân định cư lâu năm hơn [15]. Theo nhận xét của Nguyễn Xuân Xã (2013) trong một nghiên cứu về đặc điểm mắc sốt rét của cộng đồng dân tộc Gia Rai ở Đức Cơ, Gia Lai thì ở các khu vực rừng núi, biên giới có sinh cảnh thuận lợi cho muỗi sốt rét phát triển, là nơi sinh sống của các dân tộc thiểu số, dân di cư tự do, tập quán canh tác lạc hậu, điều kiện kinh tế xã thấp là nhóm có khả năng sốt rét chính. 1.3.5.3. Điều kiện nhà ở, qua lại biên giới liên quan đến mắc sốt rét Ngoài những yếu tố di dân biến động và ý thức ngủ màn thì điều kiện nhà ở cũng liên quan đến tỷ lệ mắc sốt rét, theo Nguyễn Xuân Xã là những người ở nhà sàn có khả năng mắc sốt rét gấp hơn 4 lần (OR=4,45) so với những người ở nhà trệt. Nghiên cứu của Nguyễn Võ Hinh tình hình sốt rét tại huyện biên giới A Lưới thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế cho thấy: Tỷ lệ mắc sốt rét liên quan đến rừng núi biên giới chiếm 23,18% và có liên quan đến qua lại biên giới Lào chiếm 71,53% . Kết quả điều tra của Hoàng Hà (2013) cho thấy: Tỷ lệ nhiễm KSTSR tại khu vực biên giới Việt-Lào ở Quảng Trị là 1,81% và ở Savanakhet là 5,2% số mắc sốt rét tập trung ở nam giới trưởng thành và có ngủ qua đêm ở rừng [11]. Kết quả điều trang cắt ngang (2013) tại một số xã biên giới tỉnh Đăk Nông của Văn Hoàng và Trần Quang Hào thì tỷ lệ nhiễm KSTSR chiếm 6,19% và trong số 28 người có KSTSR, thì có 28,57% số trường hợp nhiễm ở những có qua CămPuChia và 21,43% là người Căm Pu Chia sang Việt nam. Trong đó có 73,08% số người nhiễm KSTSR thường qua lại biên giới bằng đường tiểu ngạch . Theo nhận xét nghiên cứu của Nguyễn Quang Thiều (2012) tại khu vực biên giới Việt –Lào ở tỉnh Quảng Trị thì tỷ lệ mắc sốt rét ở khu vực này từ 9,9- 22,5/1000 dân. Các nhóm dân di cư vào vùng SRLH và thiếu các biện pháp phòng chống muỗi hoặc việc phòng chống không không đúng cách tạo nên tình trạng sốt rét dai dẳng và khó kiểm soát ở các khu vực biên giới. 1.3.5.4. Ký sinh trùng sốt rét kháng thuốc
- 8 Kháng thuốc là một thách thức lớn trong phòng chống sốt rét trên toàn thế giới Kể từ năm 1960 nhậy với chloroquin, một loại thuốc sử dụng rộng rãi trong điều trị sốt rét đã giảm. Kháng thuốc đầu tiên được thông báo ở Thái Lan năm 1961. Các loại thuốc sốt rét mới được nghiên cứu sản xuất để giải quyết vấn đề nêu trên nhưng tất cả các loại thuốc này có nhiều tác dụng không mong muốn và hơn thế nữa sau một thời gian sử dụng đã bắt đầu bị kháng với chủng P.falciparum. Kháng thuốc in- vivo được báo cáo với hầu hết các loại thuốc trừ artemisnin và dẫn chất. Khả năng gia tăng sốt rét và sốt rét kháng thuốc ở khu vực biên giới do người lao động di cư, người qua lại biên giới bị mắc sốt rét không được điều trị sớm, điều trị không đúng phác đồ là nguyên nhân gây bùng phát sốt rét và sốt rét kháng thuốc.Theo Amnat Khamsiriwatchara (2011): Ở Thái Lan, số trường hợp mắc sốt rét ở những người lao động di cư theo mùa từ 46% năm 2003 đã tăng lên 53% trong năm 2006, những người này có thể mang KSTSR kháng thuốc trở lại nước họ . Ở Việt Nam theo kết quả nghiên cứu của tác giả Quách Ái Đức những trường hợp kéo dài thời gian sạch KSTSR ngày D3 được phát hiện đầu tiên tại Dawk Nhau huyện Bù Đăng tỉnh Bình Phước năm 2009 với tỷ lệ 15% và lần lượt tăng lên 15,52% năm 2010 và 30,61% năm 2012. Cũng theo tác giả Vũ Văn Thái và cộng sự, tỷ lệ KST sốt rét dương tính ở ngày D3 là 11,3%, trong đó năm 2010 là 3,1% và năm 2012 tăng lên 20,0%. Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Đối tượng nghiên cứu, địa điểm, thời gian 2.1.1.Đối tượng nghiên cứu Đối tượng và quần thể nghiên cứu Là người dân tộc Gia Rai địa phương sinh sống tại 2 xã Ia Pnon và Ia Dom không phân biệt tuổi, giới, nghề nghiệp và trình độ học vấn. 2.2. Địa điểm nghiên cứu Nghiên cứu đã được tiến hành tại 4 thôn của 2 xã: Làng Tren và làng Chan (xã Ia Pnon); làng Bi, làng Móc Đen (xã Ia Dom) thuộc huyện Đức Cơ tỉnh Gia Lai * Tiêu chuẩn loại trừ đối tượng nghiên cứu - Không phải các đối tượng lựa chọn trên. 2.1.3. Thời gian nghiên cứu

