Tóm tắt Luận văn Thực trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan của trẻ em từ 0 –24 tháng tuổi tại phường Khương Mai, Thanh Xuân, Hà Nội năm 2018
Bạn đang xem tài liệu "Tóm tắt Luận văn Thực trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan của trẻ em từ 0 –24 tháng tuổi tại phường Khương Mai, Thanh Xuân, Hà Nội năm 2018", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
tom_tat_luan_van_thuc_trang_dinh_duong_va_mot_so_yeu_to_lien.pdf
Nội dung tài liệu: Tóm tắt Luận văn Thực trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan của trẻ em từ 0 –24 tháng tuổi tại phường Khương Mai, Thanh Xuân, Hà Nội năm 2018
- BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG NGUYỄN THỊ OANH THỰC TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA TRẺ EM TỪ 0 –24 THÁNG TUỔI TẠI PHƯỜNG KHƯƠNG MAI, THANH XUÂN, HÀ NỘI NĂM 2018 Chuyên ngành : Y TẾ CÔNG CỘNG Mã số : 8720701 TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. BS. TRẦN TRỌNG DƯƠNG HÀ NỘI – 2018
- 1 ĐẶT VẤN ĐỀ Dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng đối với cơ thể con người, đặc biệt đối với trẻ em – một cơ thể đang lớn và phát triển. Do vậy, việc đảm bảo cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho trẻ trong giai đoạn này là vấn đề rất quan trọng và nhu cầu dinh dưỡng của giai đoạn này cũng là cao nhất. Dinh dưỡng không đầy đủ sẽ dẫn đến hậu quả trẻ bị suy dinh dưỡng. Suy dinh dưỡng là tình trạng cơ thể thiếu protein – năng lượng và các vi chất dinh dưỡng. Bệnh thường gặp nhiều nhất ở trẻ em dưới 5 tuổi, biểu hiện ở các mức độ khác nhau. Năm 2014, theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), suy dinh dưỡng (SDD) ở trẻ em dưới 5 tuổi: SDD thể thấp còi 23,8% (159 triệu trẻ); SDD thể nhẹ cân 14,3% (95,5 triệu trẻ); SDD thể gầy còm (SDD cấp tính) 7,5% (50 triệu trẻ). Tuy nhiên, tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi ở nước ta so với thế giới và các nước trong khu vực còn cao. Mục tiêu của chương trình phòng chống suy dinh dưỡng của nước ta là giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân còn 12,5%; suy dinh dưỡng thể thấp còi còn 23% vào năm 2020. Tại Hà Nội, năm 2015 trẻ dưới 5 tuổi ở thể nhẹ cân là 5,9% (cả nước là 14,1%), thể thấp còi 14,9% (cả nước 24,6%), thể gầy còm 4,6% (cả nước là 7,8%). Năm 2016 trẻ dưới 5 tuổi ở thể thấp còi giảm còn 14,2%. Năm 2017, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng thể thấp còi giảm còn 13,6%. Dinh dưỡng của trẻ trong 2 năm đầu đời rất quan trọng đối với sức khỏe trong tương lai và thành công của trẻ. Tuy nhiên đến nay chưa có nghiên cứu nào về dinh dưỡng của trẻ em từ 0-24 tháng tuổi tại phường Khương Mai, Thanh Xuân, Hà Nội. Do đó, để góp phần mô tả tình trạng dinh dưỡng và nâng cao chất lượng dinh dưỡng của trẻ em trên địa bàn phường nói riêng và thành phố Hà Nội nói chung, chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài: “Thực trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan của trẻ em từ 0 – 24 tháng tuổi tại Phường Khương Mai, Thanh Xuân, Hà Nội năm 2018”, với 2 mục tiêu sau: 1. Mô tả thực trạng dinh dưỡng của trẻ em từ 0 – 24 tháng tuổi tại Phường Khương Mai, Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội năm 2018. 2. Phân tích một số yếu tố liên quan tới thực trạng dinh dưỡng của đối tượng nghiên cứu.
- 2 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1. CÁC THỜI KỲ PHÁT TRIỂN VÀ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CƠ BẢN, NHU CẦU DINH DƯỠNG CỦA TRẺ EM TỪ 0-24 THÁNG TUỔI 1.1.1. Cách phân chia các thời kỳ của trẻ em Theo WHO trẻ em bao gồm từ 0 đến 18 tuổi, cụ thể như sau: - Sơ sinh (Newborn): từ lúc sinh đến 1 tháng; - Trẻ bú mẹ (Infant): 1 đến 23 tháng; - Trẻ tiền học đường (Preschool child): 2 đến 5 tuổi; - Trẻ em nhi đồng (Child): 6 đến 12 tuổi; - Trẻ vị thành niên (Adolescent): 13 đến 18 tuổi. 1.1.2. Đặc điểm sinh học cơ bản của trẻ từ 0 – 24 tháng tuổi Trẻ từ lúc sinh (cắt rốn) cho đến 4 tuần lễ đầu, sự chuyển tiếp từ đời sống trong tử cung sang ngoài tử cung buộc đứa bé phải có sự thay đổi chức năng của một số cơ quan để thích nghi với cuộc sống mới như hoạt động của bộ máy hô hấp, bộ máy tuần hoàn. Vì vậy thức ăn tốt nhất là sữa mẹ. Chức năng các bộ phận phát triển nhanh nhưng chưa hoàn thiện đặc biệt là chức năng tiêu hóa, tình trạng miễn dịch thụ động (IgG từ mẹ truyền sang giảm nhanh trong khi khả năng tạo Globulin miễn dịch còn yếu). - Hệ xương phát triển nhanh. - Về đặc điểm bệnh lý thời kỳ này hay gặp là các bệnh dinh dưỡng và chuyển hóa (suy dinh dưỡng, thiếu máu, còi xương, tiêu chảy cấp) và các bệnh nhiễm khuẩn mắc phải (viêm phổi, viêm nhiễm đường hô hấp trên, viêm màng não mủ). Nói chung các bệnh nhiễm khuẩn dễ có xu hướng lan toả. 1.1.3. Nhu cầu dinh dưỡng của trẻ từ 0 – 24 tháng tuổi Trong năm đầu tiên trẻ phát triển nhanh. Đặc biệt, sau sinh 6 tháng trung bình cân nặng trẻ tăng lên gấp đôi, đến 12 tháng cân nặng của trẻ tăng lên gấp 3 so với cân nặng lúc sinh, để đáp ứng tốc độ phát triển trong năm đầu của trẻ nhu cầu các chất dinh dưỡng cũng như năng lượng đều cao [27]. Bắt đầu cho trẻ ăn bổ sung từ tháng thứ 7 nghĩa là từ khi trẻ được vừa tròn 180 ngày tuổi trở đi. Tuy nhiên, trong trường hợp bà mẹ (vì bất kể một lý
- 3 do nào đó) không có sữa hoặc không thể cho con bú được, phải sử dụng các thức ăn thay thế sữa mẹ cho trẻ. 1.2. PHÂN LOẠI SUY DINH DƯỠNG TRẺ EM 1.2.1. Phân loại theo Gomez (1956) Gomez là người đầu tiên đưa ra phân loại SDD: Là phương pháp phân loại được dùng sớm nhất nó dựa trên chỉ số cân nặng theo tuổi và sử dụng quần thể tham khảo. Cách phân loại này đơn giản nhưng không phân biệt được SDD cấp hay SDD đã lâu. 1.2.2. Phân loại theo Wellcome (1970) - Dùng cho các thể SDD nặng để phân biệt giữa Marasmus và Kwashiorko. - Phân loại dựa vào cân nặng theo tuổi và triệu chứng phù. 1.2.3. Phân loại theo Waterlow (1972) - Ưu điểm: + Dễ thực hiện tại cộng đồng + Cho biết SDD cấp tính hay mạn tính + Phân loại dựa vào CC/T so với chuẩn và CN/CC. 1.2.4. Phân loại theo WHO (2005) Theo khuyến nghị của WHO, các chỉ tiêu thường dùng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng là cân nặng theo tuổi (CN/T), chiều cao theo tuổi (CC/T), cân nặng theo chiều cao (CN/CC). Thiếu dinh dưỡng được ghi nhận khi các chỉ tiêu nói trên thấp hơn hai độ lệch chuẩn (< -2SD) so với quần thể tham chiếu National Center For Health Statistics của Hoa Kỳ. Đây là cách phân loại đơn giản cho phép đánh giá nhanh các mức độ SDD và có thể áp dụng rộng rãi trong cộng đồng. 1.3. NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ CỦA SUY DINH DƯỠNG TRẺ EM 1.3.1. Nguyên nhân suy dinh dưỡng trẻ em * Do suy dinh dưỡng bà mẹ: Nhiều đứa trẻ được sinh ra thiếu dinh dưỡng vì mẹ chúng thiếu dinh dưỡng. Có đến một nửa số trẻ em thấp còi ngay trong tử cung của bà mẹ. Ở nhiều nước đang phát triển, việc các cô gái kết hôn và bắt đầu có con khi còn ở tuổi thiếu niên - trước khi cơ thể hoàn toàn trưởng thành. Những bà mẹ trẻ thường có ít tài chính, ít học hơn, ít kiến thức chăm sóc sức khỏe và có nhiều khả năng bị suy dinh dưỡng khi họ mang thai, tăng những rủi ro cho bản thân và con cái của họ. Khi cơ
- 4 thể của bà mẹ chưa hoàn thành phát triển thì nguy cơ sinh con thiếu dinh dưỡng cao hơn. * Không được bú sữa mẹ hoặc bú ít: Các chuyên gia khuyên rằng trẻ nên được bú sữa mẹ trong vòng một giờ sau khi sinh, nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu và sau đó cho con bú đến 2 tuổi với các thực phẩm bổ sung phù hợp với lứa tuổi, đầy đủ dinh dưỡng và an toàn. Tuy nhiên, trên toàn thế giới, đại đa số trẻ em không được bú sữa mẹ một cách tối ưu. * Thiếu dinh dưỡng: Thiếu dinh dưỡng có thể xảy ra do giảm cung cấp chất dinh dưỡng, tăng tiêu thụ dưỡng chất hoặc cả hai. Giảm cung cấp chủ yếu là do chế độ ăn của trẻ không đủ cả về số lượng lẫn chất lượng, thiếu năng lượng, protein cùng các vi chất dinh dưỡng, trong đó có sắt, axit folic, kẽm; trẻ biếng ăn, ăn không đủ nhu cầu và thức ăn chế biến không phù hợp, năng lượng thấp. * Nhiễm trùng: Từ lâu, người ta đã thừa nhận các bệnh nhiễm khuẩn và ký sinh trùng là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến SDD trẻ em, đặc biệt là tiêu chảy, nhiễm giun, nhiễm khuẩn hô hấp cấp là các bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ. Mặt khác, trẻ SDD có hệ thống miễn dịch bị giảm sút, dễ mắc bệnh nhiễm trùng và hậu quả SDD ngày một nặng thêm. SDD làm tăng khả năng nhiễm khuẩn hô hấp, tiêu chảy và kéo dài thời gian tiêu chảy ở trẻ em. * Suy dinh dưỡng do nghèo: Trên tất cả các khu vực đang phát triển, suy dinh dưỡng cao nhất ở những hộ nghèo nhất. Mối quan hệ giữa còi cọc và sự giàu có khác nhau giữa các quốc gia. 1.3.2. Hậu quả của suy dinh dưỡng trẻ em - Ảnh hưởng đến vóc dáng/chiều cao khi trưởng thành. - Ảnh hưởng đến nhận thức, phát triển trí tuệ và khả năng lao động khi trưởng thành. - Tăng gánh nặng bệnh tật và tử vong. 1.3.3. Phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ em Hiện nay có bốn phương pháp được dùng để đánh giá TTDD của trẻ em: - Điều tra khẩu phần và tập quán ăn uống; - Các chỉ tiêu nhân trắc; - Thăm khám thực thể để phát hiện các dấu hiệu lâm sàng của bệnh tật có liên quan đến ăn uống; WHO đã khuyến cáo có 3 chỉ tiêu nhân trắc nên dùng là cân
- 5 nặng theo tuổi, cân nặng theo chiều cao và chiều cao theo tuổi. Cụ thể như sau: Cân nặng theo tuổi, chiều cao theo tuổi, cân nặng theo chiều cao 1.4. MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN THỰC TRẠNG DINH DƯỠNG TRẺ EM 1.4.1. Chăm sóc dinh dưỡng bà mẹ khi có thai và cho con bú Thời kỳ mang thai là thời kỳ rất quan trọng, không những có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe bản thân của bà mẹ mà còn ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của thai nhi. Vì vậy bà mẹ cần có những hiểu biết cơ bản về các kiến thức khi mang thai như số lần khám thai, chế độ dinh dưỡng, số cân tăng lên trong suốt thai kỳ, chế độ nghỉ ngơi. Khi mang thai, dinh dưỡng và thói quen dinh dưỡng tốt sẽ cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho thời kỳ mang thai, cho sự phát triển và lớn lên của thai nhi. * Nuôi con bằng sữa mẹ: - Nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) là đứa trẻ được nuôi dưỡng trực tiếp bằng bú mẹ hoặc gián tiếp do sữa mẹ vắt ra. Sữa mẹ cũng là một nguồn năng lượng và chất dinh dưỡng quan trọng ở trẻ 6 tuổi 23 tháng. - Lợi ích của sữa mẹ: + Sữa mẹ là chất dinh dưỡng hoàn hảo nhất, dễ tiêu hóa, dễ hấp thu (đủ acid amin cần thiết với tỉ lệ cân đối, acid béo cần thiết như acid linoleic, acid linolenic và dễ tiêu hóa hơn vì có men lipase, đường lactose, hàm lượng vitamin A cao và muối khoáng dễ hấp thu). + Sữa mẹ có chất kháng khuẩn (chứa nhiều IgA tiết đặc biệt là trong sữa non, lactoferin, tế bào miễn dịch lympho, yếu tố kích thích sự phát triển của lacto bacillus bifilus). + Sữa mẹ có khả năng chống bệnh dị ứng. + Tăng tình cảm mẹ con. + Giúp mẹ sớm lấy lại vóc dáng sau sinh. + Giúp mẹ chống được bệnh tật (giúp co hồi tử cung tốt giảm mất máu sau đẻ, giảm nguy cơ ung thư tử cung và ung thư vú, giúp mẹ kế hoạch hóa gia đình). + Rẻ tiền.
- 6 * Nuôi con ăn bổ sung: Theo khuyến cáo của Viện dinh dưỡng, từ tháng thứ 6 trở đi ngoài sữa mẹ trẻ cần được ăn bổ sung các loại thực phẩm khác. * Cách chăm sóc trẻ: Nếu như việc cung cấp chất dinh dưỡng đóng vai trò quyết định trong việc phát triển thể chất trẻ em, thì cách chăm sóc trẻ quyết định sự phát triển tinh thần và góp phần rất quan trọng vào việc đảm bảo phát triển thể chất trẻ em toàn diện. Trẻ em cần được chăm sóc chu đáo về vệ sinh; tiêm chủng mở rộng; theo dõi tăng trưởng; tình thương yêu; học hành và được chăm sóc dinh dưỡng đúng khi ốm như tiêu chảy, nhiễm khuẩn hô hấp. 1.4.2. Một số yếu tố khác Ngoài ra còn một số yếu tố khác tác động đến thực trạng dinh dưỡng của trẻ em như điều kiện kinh tế của gia đình, tình trạng thiếu ăn, trình độ văn hoá của bà mẹ, các yếu tố về vệ sinh môi trường, đặc biệt là tình trạng bệnh tật của trẻ. 1.5. MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ THỰC TRẠNG SUY DINH DƯỠNG TRẺ EM TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM 1.5.1. Các nghiên cứu về suy dinh dưỡng trẻ em trên thế giới Theo kết quả nghiên cứu trẻ em dưới 5 tuổi của tổ chức Cứu trợ trẻ em Mỹ năm 2012, trên thế giới còn hơn 100 triệu (15,7%) nhẹ cân, 171,0 triệu (27,0%) thấp còi và hơn 60 triệu (10,0%) gầy còm. Các khu vực Nam Á, cận hoang mạc Sahara có tỷ lệ SDD trẻ em cao nhất. Những quốc gia còn tỷ lệ SDD trẻ em cao và rất cao cả 3 thể nhẹ cân, thấp còi, gầy còm tương ứng như Timor Leste năm 2010 (44,7%, 58,1%, 18,6%); Niger năm 2011 (38,5%, 51,0%, 12,3%); Pakistan năm 2011 (31,5%, 43,7%, 15,1%); Bangladesh năm 2011 (36,4%, 41,3%, 15,6%). Tác giả Silvia và cộng sự cho thấy thời gian trung bình cho trẻ ăn thức ăn đặc là 22,2 tuần sau sinh; 60,9% trẻ thôi bú mẹ trước 4 tháng; 18,0% trẻ sơ sinh cân nặng dưới 5 kg vào thời điểm dừng bú mẹ. Trong các yếu tố liên quan đến người mẹ, chỉ có tuổi của người mẹ là có ảnh hưởng đến thời gian cho con bú. Thức ăn dặm đầu tiên để nuôi trẻ là nước nghiền khoai tây (48,6% trường hợp). Thịt và chất tinh bột được dùng cho trẻ ăn trung bình 5-7 tuần sau khi thôi bú. 1.5.2. Các nghiên cứu về suy dinh dưỡng trẻ em tại Việt Nam Báo cáo năm 2011 của Tổng cục Thống kê cho thấy tỷ lệ trẻ nhẹ cân, thấp còi, gầy còm của nhóm đồng bào Kinh và Hoa
- 7 (10,0%, 19,6%, 3,8%), thấp hơn hẳn so với tỷ lệ tương ứng của trẻ em dân tộc thiểu số (22,0%, 40,9%, 5,7%). Nghiên cứu của Đinh Đạo và cộng sự tại huyện Bắc Trà My tỉnh Quảng Nam năm 2014 cho thấy: Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân của trẻ em dưới 5 tuổi dân tộc thiểu số: 36,5%, trong đó 28,3% độ I, 6,8% độ II, 1,4% độ III. Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi: 62,8%, trong đó 43,0% độ I, 19,8% độ II. Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể gầy còm: 8,4%. Nghiên cứu của Chu Thị Phương Mai tại phòng khám dinh dưỡng Bệnh viện nhi Trung Ương (2014) cho thấy: Tỷ lệ SDD thể nhẹ cân là 37,5%, SDD thể thấp còi là 28,2% và SDD thể gầy còm là 26,9%. Trẻ bị SDD chủ yếu là mức độ vừa ở cả 3 thể SDD nhẹ cân, thấp còi và gầy còm. SDD mức độ nặng chiếm tỷ lệ thấp. 1.6. GIỚI THIỆU TÓM TẮT VỀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU Ngày 26 tháng 11 năm 1996, thực hiện Nghị định 74/NĐ-CP của Chính phủ thành lập Quận Thanh Xuân. Cũng từ đó, ngày 17 tháng 01 năm 1997 cơ quan Đảng, chính quyền và các đoàn thể của Phường ra mắt nhân dân phường Khương Mai và chính thức có tên và địa danh trên bản đồ hành chính Thủ đô Hà Nội. Năm 2015, diện tích của phường là 105,11 ha trong đó đất an ninh, quốc phòng: 57,12 ha, đất ở cho dân cư: 32,29 ha còn lại là đất công trình giao thông, cơ quan hành chính và trường học. Dân số cũng tăng lên, ngày đầu thành lập có 2216 hộ với 9915 nhân khẩu, đến nay là 5683 hộ với 25086 nhân khẩu, hộ khẩu KLT tăng từ 38% lên 52%, trên 85% các hộ là gia đình cán bộ công chức, viên chức Nhà nước. Trong 18 năm qua Lãnh đạo, chính quyền Phường đã vận dụng sáng tạo trong quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị của Phường. CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 2.1.1. Đối tượng, địa điểm nghiên cứu * Đối tượng nghiên cứu: - Trẻ em từ 0 - 24 tháng tuổi sống trên địa bàn Phường Khương Mai, Thanh Xuân, Hà Nội tính đến hết tháng 10/2018.
- 8 - Bà mẹ của các trẻ em trong nhóm đối tượng nghiên cứu. * Địa điểm nghiên cứu: Phường Khương Mai, Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội. 2.1.2. Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 05 năm 2018 đến tháng 10 năm 2018 2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.2.1. Thiết kế nghiên cứu * Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích. * Phương pháp chọn mẫu: - Tiêu chuẩn chọn mẫu: + Trẻ em từ 0 - 24 tháng tuổi đang sống tại thời điểm và trên địa bàn nghiên cứu tính đến hết tháng 10/2018. + Trẻ không bị mắc các bệnh bẩm sinh, các bệnh mạn tính, tại thời điểm nghiên cứu không mắc các bệnh cấp tính. + Bà mẹ có tinh thần bình thường, tự nguyện tham gia nghiên cứu. - Tiêu chuẩn loại trừ: + Trẻ trên 24 tháng tuổi. + Trẻ mắc các bệnh bẩm sinh, các bệnh mạn tính hoặc đang mắc bệnh cấp tính. + Bà mẹ bị bệnh tâm thần, rối loạn trí nhớ. + Bà mẹ không hợp tác nghiên cứu. 2.2.2. Cỡ mẫu Chọn mẫu thuận tiện, chọn tất cả trẻ em từ 0 đến 24 tháng tuổi và bà mẹ của trẻ em đang sống trên địa bàn phường Khương Mai, Thanh Xuân, Hà Nội, tổng số là 720 trẻ, bao gồm trẻ có hộ khẩu thường trú và tạm trú dài hạn. 2.2.3. Phương pháp thu thập số liệu * Chỉ số nhân trắc và một số triệu chứng lâm sàng kèm theo: - Cân nặng: Dùng cân có độ chính xác 0,1kg. - Chiều dài nằm của trẻ: đo chiều dài nằm của trẻ thay vì chiều cao. Vì ở độ tuổi này, trẻ chưa có khả năng đứng đủ tiêu chuẩn để đo đứng. Đo bằng thước gỗ có chặn đầu và chân. - Tính tuổi: Tuổi của trẻ được tính bằng cách lấy ngày tháng năm điều tra trừ đi ngày tháng năm sinh của trẻ, và phân loại theo WHO, 1995. Ví dụ:
- 9 + Trẻ từ 1-29 ngày: 0 tháng tuổi. + Trẻ từ 30-59 ngày: 1 tháng tuổi. + Trẻ từ 11 tháng - 11 tháng 29 ngày: 11 tháng tuổi. * Công cụ thu thập số liệu: Nghiên cứu sử dụng bảng hỏi được học viên xây dựng nhằm thu thập thông tin chung về đối tượng nghiên cứu và một số yếu tố liên quan đến thực trạng dinh dưỡng của trẻ. 2.2.4. Đánh giá kiến thức, thực hành của bà mẹ 2.2.5. Biến số và chỉ số nghiên cứu 2.2.6. Phương pháp xử lý số liệu - WHO Anthro 2005 - Nhập số liệu bằng phần mềm SPSS 20.0, OR (CI 95%) chỉ số p để so sánh thống kê. Sử dụng phối hợp các phương pháp, thuật toán thống kê y học; - Làm sạch số liệu từ phiếu; - Lập các bảng, biểu đồ để trình bày kết quả nghiên cứu; 2.2.7. Sai số và khống chế sai số Các loại sai số có thể gặp: - Sai số ngẫu nhiên nhớ lại trong quá trình thu thập thông tin qua phỏng vấn; - Sai số hệ thống trong quá trình cân, đo chiều dài cho trẻ. Cách khống chế: - Chọn lựa các điều tra viên có kinh nghiệm trong điều tra dinh dưỡng, có kinh nghiệm làm việc với y tế phường; - Tổ chức tập huấn chi tiết về bảng hỏi và kỹ thuật cân đo trước khi điều tra; - Trong quá trình điều tra có giám sát viên tham gia giám sát. 2.2.8. Đạo đức nghiên cứu - Thông qua Hội đồng đạo đức trường Đại học Thăng Long; - Luận văn này chỉ phục vụ cho học tập, nghiên cứu, không vi phạm các đạo đức nghề nghiệp cũng như thuần phong mỹ tục con người. 2.2.9. Hạn chế của nghiên cứu - Phạm vi nghiên cứu của luận văn là ở tại một phường nên tính đại diện chưa cao. - Các số liệu chủ yếu là các số liệu sơ cấp, phỏng vấn các đối tượng còn mang tính chủ quan, tính khách quan còn hạn chế. - Nghiên cứu của luận văn chỉ tập trung được vào vấn đề suy dinh dưỡng trẻ em mà chưa đề cập đến tình trạng thừa cân - béo phì của trẻ em trong nhóm đối tượng nghiên cứu.

