Tóm tắt Luận văn Kiến thức, thái độ, thực hành về mất cân bằng giới tính khi sinh và một số yếu tố liên quan tại tỉnh Ninh Bình năm 2018
Bạn đang xem tài liệu "Tóm tắt Luận văn Kiến thức, thái độ, thực hành về mất cân bằng giới tính khi sinh và một số yếu tố liên quan tại tỉnh Ninh Bình năm 2018", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
tom_tat_luan_van_kien_thuc_thai_do_thuc_hanh_ve_mat_can_bang.pdf
Nội dung tài liệu: Tóm tắt Luận văn Kiến thức, thái độ, thực hành về mất cân bằng giới tính khi sinh và một số yếu tố liên quan tại tỉnh Ninh Bình năm 2018
- 1 ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện tượng nam hoá trong dân số Châu Á lần đầu tiên được biết đến thông qua sự gia tăng tỷ số giới tính trong các quần thể trẻ em. Khi xem xét dân số Châu Á một cách tổng thể tỷ số giới tính ở trẻ em tăng lên trong nửa thế kỷ trở lại đây, thường xảy ra ở các quốc gia thực hiện chính sách hạn chế sinh đẻ, gia đình ít con (1-2 con) như Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ và một số nước Trung Á như Azecbaizan, Acmênia Theo dự báo của Quỹ dân số Liên hiệp quốc, nếu tiếp tục tăng như vậy các năm tiếp theo sẽ tác động nặng nề đến thế hệ nam thanh niên được sinh ra sau năm 2005 vì khi bước vào độ tuổi lập gia đình vào những năm 2030 thì nhóm nam giới này sẽ dư thừa so với phụ nữ cùng lứa tuổi 10% [30]. Nếu không có can thiệp hiệu quả để giảm tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh thì sau 20 năm nữa Việt Nam sẽ có 4,3 triệu thanh niên ít có cơ hội lấy được vợ trong nước. Dù làm tốt can thiệp để giảm mất cân bằng giới tính khi sinh thì con số đó cũng còn tới 2,3 triệu [30]. Hiện nay, tỉnh Ninh Bình cũng không nằm ngoài thực trạng chung đó, tỷ số giới tính khi sinh trong thời gian gần đây đang có xu hướng tăng cao: Tỷ số giới tính khi sinh năm 2005 là 106 đến năm 2007 là 114, năm 2009 là 116 và năm 2016 là 113,3. Tình trạng này đang diễn ra ở hầu hết các địa phương trong tỉnh. Với xu hướng này nếu không có giải pháp can thiệp kịp thời thì trong tương lai gần mất cân bằng giới tính khi sinh của Ninh Bình sẽ ngày càng tăng, làm ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Chính vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu “Kiến thức, thái độ, thực hành về mất cân bằng giới tính khi sinh và một số yếu tố liên quan tại tỉnh Ninh Bình năm 2018” với 2 mục tiêu: 1. Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về mất cân bằng giới tính khi sinh của phụ nữ 15 - 49 tuổi tại tỉnh Ninh Bình, năm 2018. 2. Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành về mất cân bằng giới tính khi sinh của đối tượng nghiên cứu.
- 2 Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1. Một số khái niệm liên quan 1.1.1. Giới và bình đẳng giới Giới: Chỉ đặc điểm vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội. Giới chỉ những đặc điểm mà nam và nữ (về mặt xã hội) có được do quá trình học hỏi từ gia đình, nhà trường và giao tiếp xã hội chứ không phải sinh ra đã có. Bình đẳng giới: Là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của chính mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó [20]. 1.1.2. Tỷ số giới tính khi sinh và mất cân bằng giới tính khi sinh Tỷ số giới tính khi sinh: Là số trẻ em trai được sinh ra còn sống trên 100 em gái được sinh ra còn sống trong một khoảng thời gian xác định, thường là một năm tại một quốc gia, một vùng hay một tỉnh. Bình thường, tỷ số này thường dao động từ 103 - 107. Mất cân bằng giới tính khi sinh: Là số trẻ em trai được sinh ra còn sống không trong giới hạn bình thường so với 100 em gái được sinh ra còn sống trong một khoảng thời gian xác định, thường là một năm tại một quốc gia, một vùng hay một tỉnh. Theo quy ước nhân khẩu học, khi tỷ số giới tính khi sinh của một quốc gia, một vùng hoặc một tỉnh/thành phố thấp hơn 103 và cao hơn 107 trở lên là có MCBGTKS. 1.2. Các quy định liên quan đến mất cân bằng giới tính khi sinh - Tại Điều 40, khoản 7, mục b của Luật bình đẳng giới đã quy định: “Lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức hoặc xúi giục, ép buộc người khác phá thai vì giới tính của thai nhi” là hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực y tế. - Mục 2 Điều 7 Pháp lệnh Dân số [29] năm 2003 quy định: nghiêm cấm các hành vi lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức. - Mục 5 Điều 7 Pháp lệnh Dân số [29] quy định: nghiêm cấm các hành vi tuyên truyền, phổ biến hoặc đưa ra những nội dung thông tin
- 3 có nội dung trái với chính sách dân số, truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc, có ảnh hưởng xấu đến công tác dân số và đời sống xã hội. - Điều 10 Nghị định 104/2003/NĐ- CP ngày 16/9/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Dân số: nghiêm cấm các hành vi lựa chọn giới tính thai nhi, bao gồm: + Tuyên truyền, phổ biến phương pháp tạo giới tính thai nhi dưới các hình thức: Tổ chức nói chuyện, viết, dịch, nhân bản các loại sách, báo, tài liệu, tranh ảnh, ghi hình, ghi âm, tàng trữ, lưu truyền tài liệu, phương tiện và các hình thức tuyên truyền, phổ biến khác về phương pháp tạo giới tính thai nhi. + Chẩn đoán để lựa chọn giới tính thai nhi bằng các biện pháp: xác định qua triệu chứng, bắt mạch, xét nghiệm máu, gen, nước ối, tế bào, siêu âm. + Loại bỏ thai nhi vì lý do lựa chọn giới tính bằng các biện pháp phá thai, cung cấp, sử dụng các loại hóa chất, thuốc, các biện pháp khác. 1.3. Thực trạng tỷ số giới tính khi sinh trên thế giới và Việt Nam Thực trạng tỷ số giới tính khi sinh trên thế giới: Trên thế giới, TSGTKS gần như ổn định từ năm 1950 đến năm 2005 ở mức (105 - 106) và không có sự chênh lệch nhiều ở các châu lục. Tuy nhiên trong những thập kỷ cuối của thế kỷ XX. Theo tổng kết của Quỹ dân số Liên hiệp quốc (UNFPA) một số nước TSGTKS đã có dấu hiệu tăng cao, châu Á là nơi có sự mất cân bằng giới tính khi sinh cao nhất trên thế giới trong đó Trung Quốc và Ấn Độ là 2 quốc gia đứng đầu về sự mất cân bằng này. Tính đến năm 2005 đã có 12 nước và vùng lãnh thổ xảy ra tình trạng MCBGTKS (TSGTKS cao trên 107) [31]. Thực trạng tỷ số giới tính khi sinh tại Việt Nam TSGTKS của Việt Nam được biết đến từ Tổng điều tra dân số năm 1989 và được thể hiện rõ nét từ Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1999 và thông qua các cuộc Điều tra biến động dân số 01/4 hàng năm. Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở 1999, TSGTKS của năm
- 4 1999 là 107, tăng nhẹ so với năm 1998 (105), tuy nhiên con số này vẫn nằm ở mức chuẩn của quốc tế. Nhưng xét theo vùng, tỷ số này cao nhất tại Đồng Bằng Sông Cửu Long (113), tiếp đến là Đông Nam bộ (109) và Tây Bắc (108), ba vùng này chiếm tới 40% dân số cả nước [19]. Theo kết quả Điều tra biến động dân số - KHHGĐ trong các năm 2006, 2007 và 2008 thì TSGTKS của cả nước tăng dần từ 109,8 năm 2006 lên 111,6 năm 2007 và 112,1 năm 2008. Số liệu từ cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, hiện tượng MCBGTKS ở nước ta đã trở thành một vấn đề xã hội thực sự lớn. Tỷ số giới tính của nhóm tuổi từ 0 - 5 tuổi là 111,5. Theo báo cáo công tác dân số - KHHGĐ giai đoạn 2011 - 2015, cả nước có đến 55 tỉnh/TP có TSGTKS cao hơn giới hạn bình thường 1.4. Một số yếu tố liên quan đến tỷ số giới tính khi sinh Nguyên nhân mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam: + Nhóm nguyên nhân cơ bản: văn hoá truyền thống + Nhóm nguyên nhân phụ trợ: chuẩn mực xã hội + Nhóm nguyên nhân trực tiếp: Lạm dụng những tiến bộ khoa học công nghệ Hệ lụy do mất cân bằng giới tính khi sinh gây ra: Mất cân bằng giới tính khi sinh sẽ dẫn đến tình trạng số nam nhiều hơn đáng kể so với số nữ ở độ tuổi trưởng thành, đặc biệt trong độ tuổi kết hôn và sinh đẻ. Điều này sẽ gây ra những tác động xấu đối với gia đình và xã hội, đặc biệt là đối với người vợ. Chương II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 2.1.1. Đối tượng nghiên cứu Phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ từ 15 - 49 tuổi có chồng (đối tượng là những người mới sinh con từ năm 2013 đến thời điểm điều tra năm 2018) Tiêu chuẩn lựa chọn: Phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ từ 15 - 49 tuổi có chồng (mới sinh con từ năm 2013 đến thời điểm điều tra năm 2018),
- 5 có hộ khẩu thường trú, thường xuyên sống, sinh hoạt tại 5 huyện/TP nghiên cứu. Đối tượng đồng ý tham gia vào nghiên cứu. Tiêu chuẩn loại trừ: Bao gồm những người không bình thường về tâm thần, sức khỏe (câm, điếc, mù, liệt) và những người không thường xuyên cư trú tại địa bàn nghiên cứu 2.1.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu tháng 5 đến tháng 9 năm 2018 tại 5 huyện/TP trên tổng số 8 huyện/TP của tỉnh Ninh Bình gồm: Thành phố Ninh Bình, huyện Hoa Lư, huyện Gia Viễn, huyện Nho Quan (huyện miền núi), huyện Kim Sơn (huyện miền biển). 2.2. Phương pháp nghiên cứu 2.2.1. Thiết kế nghiên cứu: là nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích. 2.2.2. Cỡ mẫu và cách chọn mẫu Cỡ mẫu: áp dụng công thức tính cỡ mẫu nghiên cứu mô tả. 2 p.(1− p) n = Z (1−α/ 2) d 2 n: Cỡ mẫu nghiên cứu Z (1- α/2) hệ số giới hạn tin cậy, ứng với khoảng tin cậy 95% (α = 0,05) p=0,752: tỷ lệ phụ nữ 15-49 tuổi, sinh con trong 24 tháng trước điều tra có biết giới tính thai nhi trước khi sinh 75,2% (Kết quả Điều tra biến động dân số - KHHGĐ 1/4/ 2010) [19]. d = Sai số mong muốn (ước tính d = 0,032) ➔ Thay vào công thức ta có cỡ mẫu n~700 Phương pháp chọn mẫu: chọn mẫu tầng + Chọn huyện: Chọn chủ đích: Miền núi: Huyện Nho Quan và huyện Gia Viễn. Miền biển: Huyện Kim Sơn. Vùng đồng bằng: Thành phố Ninh Bình và huyện Hoa Lư. + Chọn xã: Ở mỗi huyện/TP chọn ngẫu nhiên 7 xã/phường/thị trấn + Chọn hộ gia đình: Ở mỗi xã/phường/thị trấn chọn 20 hộ gia đình để điều tra: Trong danh sách tổng hợp tiến hành chọn ngẫu nhiên đơn hộ gia đình theo phương pháp cổng liền cổng cho đến khi đủ số lượng mẫu nghiên cứu.
- 6 2.2.3. Phương pháp thu thập thông tin Bộ câu hỏi phỏng vấn để phỏng vấn thông tin chung, kiến thức, thực hành của đối tượng nghiên cứu. 2.3. Biến số và chỉ số nghiên cứu: Biến số, chỉ số theo 2 mục tiêu nghiên cứu. 2.4. Phân tích và xử lý số liệu Nhập liệu bằng phần mềm Epi Data 3.1. Số liệu được làm sạch và mã hóa trước khi phân tích. Phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 20.0 2.5. Đạo đức nghiên cứu Nghiên cứu được Hội đồng Đạo đức Trường Đại học Thăng Long thông qua. Nghiên cứu được sự đồng ý của lãnh đạo địa phương, Trung tâm Dân số - kế hoạch hoá gia đình tỉnh Ninh Bình. 2.6. Hạn chế nghiên cứu Từ năm 2011, trên địa bàn tỉnh Ninh Bình đã triển khai Đề án “Kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh”. Đến nay đã triển khai tại 145 xã, phường thị trấn với mục đích tăng cường công tác tuyên truyền để nâng cao kiến thức của người dân về hậu quả của MCBGTKS. Vì vậy trong cuộc nghiên cứu này sẽ có nhiều người đã có những hiểu biết nhất định về vấn đề MCBGTKS, do vậy trong cuộc phỏng vấn họ trả lời cố gắng để tỏ ra mình có kiến thức đúng về vấn đề này nên ảnh hưởng nhiều đến các câu trả lời liên quan đến thực hành lựa chọn giới tính thai nhi. Bên cạnh đó còn hạn chế đó là không gian và thời gian phỏng vấn. Không gian phỏng vấn chủ yếu tại hộ gia đình nên không gian cuộc phỏng vấn bị ảnh hưởng bởi những người trong gia đình. Về thời gian, đối tượng tham gia cuộc phỏng vấn chủ yếu là những đối tượng trong độ tuổi lao động và là lao động chính của gia đình nên khi điều tra viên đến nhà họ thường vắng nhà vì vậy các cuộc phỏng vấn phải tranh thủ vào buổi trưa nên hạn chế về mặt thời gian để khai thác các thông tin.
- 7 Chương III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1. Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về mất cân bằng giới tính khi sinh của phụ nữ 15 - 49 tuổi tại tỉnh Ninh Bình, năm 2018 51,1 35,9 % ệ l ỷ T 13 1 con 2 con ≥ 3 con Biểu đồ 3. 1. Số con hiện có của đối tượng nghiên cứu Biểu đồ 3.1. cho thấy đối tượng nghiên cứu hiện có 02 con chiếm 51,1%. đối tượng có 01 con chiếm 35,9% và có từ 3 con trở lên chiếm 13,0%. 47,0% 53,0% Trai Gái Biểu đồ 3. 2. Giới tính con sinh ra lần gần đây nhất (n=700) Kết quả cho thấy đối tượng nghiên cứu sinh con gần đây nhất chủ yếu là con trai chiếm 53%, con gái chiếm 47%. ▪ Kiến thức về vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh Bảng 3. 1. Nghe nói về “Mất cân bằng giới tính khi sinh” (n=700) Nghe nói về MCBGTKS Số lượng Tỷ lệ (%) Đã nghe nói 623 89,0 Chưa từng nghe bao giờ 77 11,0 Chung 700 700 Phần lớn đối tượng đã từng nghe nói về MCBGTKS là 89,0%.
- 8 Bảng 3. 2. Biết về dịch vụ chẩn đoán, lựa chọn giới tính thai nhi tại địa phương (n=700) Biết các dịch vụ hiện có tại địa phương Số lượng Tỷ lệ (%) Siêu âm để phát hiện giới tính thai nhi 631 90,1 Phá thai 331 47,3 Tư vấn sinh con theo ý muốn 18 2,6 Dịch vụ phổ biến các phương pháp sinh 14 2,0 con theo ý muốn Khác 57 8,1 Dịch vụ siêu âm chẩn đoán giới tính trước sinh tại địa phương chiếm tỷ lệ cao 90,1%, dịch vụ phá thai 47,3%. tư vấn sinh con theo con ý muốn và phươn pháp sinh con theo ý muốn 2-2,6%. Bảng 3. 3. Biết cách sinh con theo ý muốn (n=700) Biết cách sinh con theo ý muốn Số lượng Tỷ lệ (%) Có 57 8,1 Không 643 91,9 Chung 700 100 Đôi tượng biết cách sinh con theo ý muốn chiếm 8,1%, phần lớn đối tượng chưa biết cách sinh con theo ý muốn 91,9%. Bảng 3. 4. Kiến thức về hậu quả của tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh (n=700) Kiến thức Số lượng Tỷ lệ (%) Có 489 69,9 Không 211 30,1 Chung 700 100 Phần lớn đối tượng có kiến thức về hậu quả của tình trạng MCBGTKS 69,9%. ▪ Thái độ về vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh ▪ Thực hành về vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh ▪ 3.2. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành về vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh - Một số yếu tố liên quan đến kiến thức về mất cân bằng giới tính khi sinh
- 9 Bảng 3. 5. Mối liên quan giữa trình độ học vấn, tuổi của đối tượng với kiến thức từng nghe nói đến “Mất cân bằng giới tính khi sinh” Nghe nói đến vấn Đã từng Chưa từng OR (95%CI) p đề MCBGTKS (n=623) (n=77) Đặc điểm SL % SL % Trình độ học vấn Từ THPT trở lên 500 89,0 62 11,0 0,98 0,96 Dưới THPT 123 89,1 15 10,9 (0,50-1,82) Nhóm tuổi ≤ 29 tuổi 303 86,3 48 13,7 1 30 – 39 tuổi 243 90,3 26 9,7 1,48 (0,87-2,56) 0,13 40 – 49 tuổi 77 96,3 3 3,7 4,07 (1,25-20,9) 0,01 Tỷ lệ đã từng nghe nói đến vấn đề MCBGTKS ở đối tượng 40-49 tuổi cao gấp 4,07 lần so với nhóm đối tượng dưới 29 tuổi (95%CI: 1,25-20,90), mối liên quan có ý nghĩa thống kê với p<0,05. Không có mối liên quan giữa trình độ học vấn của đối tượng với việc nghe nói đến vấn đề MCBGTKS. Bảng 3. 6. Mối liên quan giữa trình độ học vấn, tuổi của đối tượng với kiến thức đúng về hậu quả của tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh Biết về hậu Có Không OR (95%CI) p quả (n=489) (n=211) Đặc điểm SL % SL % Trình độ học vấn >THPT trở lên 402 71,5 160 28,5 1,47 0,06 Dưới THPT 87 63,0 51 37,0 (0,97-1,21) Nhóm tuổi ≤ 29 tuổi 246 70,1 105 29,9 1 30 – 39 tuổi 183 68,0 86 32,0 0,91 (0,64-1,3) 0,58 40 – 49 tuổi 60 75,0 20 25,0 1,28 (0,72-2,36) 0,38 Không có sự liên quan giữa trình độ học vấn, nhóm tuổi của đối tượng với việc có kiến thức đúng về hậu quả của tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh.
- 10 Bảng 3. 7. Mối liên quan giữa trình độ học vấn, tuổi của đối tượng với kiến thức về các quy định liên quan đến việc nghiêm cấm lựa chọn giới tính thai nhi Biết các quy Có Không OR (95%CI) p định liên (n=230) (n=470) quan SL % SL % Đặc điểm Trình độ học vấn >THPT 195 34,7 367 65,3 1,56 0,04 Dưới THPT 35 25,4 103 74,6 (1,01-2,46) Nhóm tuổi ≤ 29 tuổi 101 28,8 250 71,2 1 30 – 39 tuổi 107 39,8 162 60,2 1,63 (1,15-2,32) <0,01 40 – 49 tuổi 22 27,5 58 72,5 0,94 (0,52-1,66) 0,82 Tỷ lệ đối tượng biết các quy định liên quan đến việc nghiêm cấm lựa chọn giới tính thai nhi cao hơn: ở đối tượng có trình độ học vấn từ THPT trở lên OR=1,56 (95%CI: 1,10-2,46). nhóm 30-39 tuổi OR=1,63 (95%CI:1,15-2,32) (so với nhóm dưới 29 tuổi). mối liên quan có ý nghĩa thống kê với p<0,05. - Một số yếu tố liên quan đến thực hành về mất cân bằng giới tính khi sinh Bảng 3. 8. Mối liên quan giữa tuổi của người phụ nữ với ý định muốn có thêm con Ý định có Có Không OR (95%CI) p thêm con (n=274) (n=426) Đặc điểm SL % SL % Nhóm tuổi ≤ 29 tuổi 180 51,3 171 48,7 6,6 (3,31-14,26) <0,01 30 – 39 tuổi 83 30,9 186 69,1 2,80 (1,38-6,16) <0,01 40 – 49 tuổi 11 13,8 69 86,2 1 Tuổi của người phụ nữ có mối liên quan với ý định muốn có thêm con, tuổi càng trẻ tỷ lệ muốn có thêm con càng cao: nhóm dưới 29 tuổi OR=6,60 (95%CI: 3,31-14,26). nhóm 30-39 tuổi OR=2,80 (95%CI: 1,38-6,16) so với nhóm trên 40 tuổi. mối liên quan có ý nghĩa thống kê với p<0,05.

